Cây lô hội chữa viêm đại tràng mãn tính

13:08 | 05/06/2011
TPO - Trong dân gian còn gọi lô hội là cây nha đam hoặc du thông. Lô hội có tính mát, vị đắng đi vào 3 kinh can, tỳ, vị, có tác dụng giải độc, thanh nhiệt, nhuận tràng, thông đại tiện, mát huyết.
Cây lô hội
Cây lô hội. Ảnh: Internet
Cần lưu ý: lô hội có tác dụng tẩy mạnh nên không dùng cho phụ nữ có thai, người có tỳ vị hư nhược, đại tiện phân lỏng.
Chữa chứng viêm loét tá tràng: 20g lô hội, 20g dạ cẩm, 12g nghệ vàng (tán bột mịn), 6g cam thảo. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần. Thêm mai mực tán bột 10g uống cùng nước thuốc trên nếu ợ chua nhiều. Điều trị 15-20 ngày là một liệu trình.
Chữa chứng viêm đại tràng mãn tính: lấy 5 lá tươi lô hội bóc vỏ ngoài, xay nhỏ cùng 500ml mật ong. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 30ml.
Chữa chứng táo bón: ngày ăn 1 lá lô hội tươi hoặc 20g lô hội xay với 500ml nước, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Chữa chứng tiêu hóa kém: 20g lô hội, 12g bạch truật, 4g cam thảo. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.
Chữa chứng tiểu đục như nước vo gạo: 20g lô hội tươi, giã nát uống trước bữa ăn, ngày uongs 2 lần. Hoặc dùng 20g hoa lô hội nấu với thịt lợn ăn.
Chữa chứng tiểu đường: 20g lá lô hội sắc hoặc uống sống ngày một thang.
Chữa chứng ho khạc ra máu: 20g lá lô hội bỏ vỏ ngoài rửa sạch chất dính. Sắc uống này 1 thang.
Chữa chứng nôn ra máu: 20g hoa lô hội, sắc với rượu uống.
Trẻ em bị cam tích: 20g rễ lô hội khô, sắc uống ngày 1 thang.
Chữa chứng bế kinh, đau bụng kinh: 20g lô hội, 12g nghệ đen, 20g rễ củ gai, 12g tô mộc, 4g cam thảo. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
Chữa bệnh quai bị: lấy lá lô hội giã nát đắp lên chỗ sưng đau. Đồng thời lấy 20g lá lô hội sắc uống ngày 1 thang. Chia làm 2-3 lần uống trong ngày.
Chữa trứng cá: lá lô hội tươi rửa sạch, bóc vỏ lấy phần nhựa tươi, xoa lên vùng bị trứng cá. Ngày 1 lần, dùng nhiều ngày sẽ có kết quả.
BS Thành Đức

Viêm loét đại trực tràng chảy máu Bệnh không thể xem nhẹ

camnangthuoc.vn
Cập nhật: 22/06/2010 02:31 pm

Viêm loét đại trực tràng chảy máu là bệnh thường gặp ở châu Âu và Bắc Mỹ, nhưng thời gian gần đây đang có xu hướng tăng ở châu Á. Căn nguyên của bệnh chưa rõ ràng, thường xảy ra ở người trẻ, với biểu hiện lâm sàng chủ yếu là đau bụng, tiêu chảy phân máu kèm theo sốt và sút cân, bệnh mạn tính tiến triển từng đợt, để lại nhiều biến chứng như áp-xe hậu môn, hẹp đại tràng, chảy máu trầm trọng, phình đại tràng nhiễm độc, ung thư hóa... Việc điều trị cho đến nay còn gặp rất nhiều khó khăn.


Biểu hiện của bệnh
 Nội soi đại tràng theo dõi loét đại trực tràng.
Nổi bật và thường gặp nhất trong viêm loét đại trực tràng chảy máu là đau bụng và tiêu chảy phân máu, kèm theo sốt và sút cân. Tùy từng giai đoạn mà có các biểu hiện khác nhau, thông thường người ta chia làm 3 thể: Thể nhẹ: đây là thể thường gặp chiếm trên 60% trường hợp, triệu chứng đại tiện nhày máu chỉ kéo dài dưới 4 ngày, không có thay đổi thể trạng, không có thiếu máu hoặc giảm protein máu. Bệnh thường chỉ khu trú ở trực tràng hoặc đại tràng sigma, hiếm khi có tổn thương cao hơn ở phía trên. Các biểu hiện ngoài ruột là rất hiếm. Thể này cũng có thể diễn tiến thành thể nặng hơn.
Thể trung bình: chiếm khoảng 25% trường hợp, các đợt tiêu chảy thường khởi đầu bằng đau quặn bụng, rồi đại tiện phân máu, có thể xảy ra vào ban đêm nhưng số lần đại tiện thường dưới 6 lần/ngày. Thường kèm theo sốt, giảm protein máu, làm bệnh nhân mệt mỏi. Tiên lượng trong thể này kém hơn.
Thể nặng hoặc thể sét đánh: chiếm khoảng 15% trường hợp, số lần đại tiện phân máu hơn 6 lần/ngày và thường xảy ra về ban đêm. Thường có cảm giác đau rát, buốt hậu môn và mót rặn. Tổng trạng suy sụp với nhịp tim nhanh, huyết áp hạ, sốt cao, bụng trướng. Nếu không được điều trị thì tiến triển rất nặng đưa đến tử vong do xuất huyết trầm trọng hoặc giãn đại tràng nhiễm độc.
Chẩn đoán dựa vào các triệu chứng lâm sàng và các biểu hiện đặc trưng khi nội soi đại trực tràng kết hợp với sinh thiết. Khi soi đại trực tràng cần cẩn thận không nên bơm hơi nhiều vì có thể gây thủng ruột.
Biến chứng có thể xảy ra
Các biến chứng nhẹ của ruột là giả polyp, chỉ xảy ra trong 20% trường hợp, các biến chứng ít gặp hơn là nứt hậu môn, rò và áp-xe hậu môn.
Các biến chứng nặng của ruột là chảy máu trầm trọng, hẹp đại tràng, phình đại tràng nhiễm độc, thủng và có thể đưa đến ung thư.
Một số biến chứng khác như viêm quanh mật quản, viêm khớp, hồng ban nút, viêm da mủ hoại thư, viêm xơ đường mật tiên phát, viêm thận bể thận và sỏi, trong đợt cấp nặng của viêm loét đại trực tràng chảy máu lan rộng có thể có biến chứng đông máu rải rác nội mạch.
Chẩn đoán phân biệt
Viêm đại tràng mạn do nhiễm khuẩn và ký sinh trùng: thường gặp nhất là do chlamydia, herpes và amíp, lao ruột, lỵ trực khuẩn, viêm đại tràng giả mạc do Clostridium diffcile;
Bệnh Crohn: đây là loại bệnh có cơ chế bệnh sinh và hình thái lâm sàng rất gần với viêm loét đại trực tràng chảy máu, chẩn đoán phân biệt cần dựa vào nội soi với hình ảnh tổn thương khu trú hay nhảy cóc và nhất là sinh thiết với sự hiện diện của tế bào biểu mô khổng lồ.
Bệnh viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ: bệnh thường xảy ra ở người già có dấu hiệu xơ vữa động mạch. Lâm sàng có dấu hiệu thiếu máu ruột sau khi ăn. Xác định bằng chụp nhuộm động mạch mạc treo thấy hình ảnh teo hẹp.
Viêm đại tràng do tia xạ: tiền sử bệnh nhân có chiếu tia xạ vùng bụng nhất là hạ vị.
Điều trị
Thông thường, trong viêm loét đại trực tràng chảy máu các thuốc thường được dùng phối hợp là corticoid, sulfasalazin và các dẫn chất của nó, azathioprin, cyclosporin. Tuy nhiên, tùy theo tình trạng, giai đoạn của bệnh, tổng trạng của bệnh nhân mà bác sĩ sẽ chỉ định dùng thuốc cụ thể.
Ngoài việc sử dụng thuốc cũng cần chú ý đến chế độ ăn uống và sinh hoạt của bệnh nhân, động viên bệnh nhân bằng các liệu pháp tâm lý, trong trường hợp thiếu hụt men lactase thì không cho bệnh nhân dùng sữa, trong đợt tiến triển khẩu phần ăn cần hạn chế chất xơ. Không dùng các chế phẩm của thuốc phiện, thuốc chống tiêu chảy và thuốc kháng cholin vì có thể gây ra phình đại tràng, đặc biệt trong trường hợp có biến chứng phình đại tràng nhiễm độc bệnh nhân phải được theo dõi và điều trị trong trung tâm hồi sức tích cực.
Viêm loét đại trực tràng chảy máu cần được theo dõi thường xuyên 6 tháng 1 lần bằng soi đại tràng và sinh thiết đại tràng và đại tràng sigma để kịp thời phát hiện giai đoạn loạn sản nặng hoặc là giai đoạn đầu của tiến triển ung thư.
BS. Nguyễn Bạch Đằng

Bạn đã dùng đúng tách nước đầu tiên?

suckhoedoisong.vn

Thứ Năm, 29/03/2012 11:01

Nhiều người cho rằng, sau khi thức dậy tách nước đầu tiên lúc bụng đói có ích cho sức khỏe. Tuy nhiên, tách nước này uống như thế nào mới đúng? Việc chọn nước đun, nước muối nhạt, nước mật ong, nước chanh, nước trái cây, sữa… có đúng không?
Nước đun
Sáng sớm uống nước, uống nước đun có nhiệt độ ngang với nhiệt độ phòng là tốt nhất, nhằm cố gắng giảm thiểu kích thích đường ruột. Nghiên cứu khám phá rằng, nước đun sôi để nguội đến 20 - 25oC là chọn lựa tốt nhất, bởi trong đó chứa hoạt tính sinh học, sẽ thẩm thấu qua màng tế bào thúc đẩy trao đổi chất, tăng cường chức năng miễn dịch cơ thể. Phàm ai thói quen uống nước ấm hay nước đun để nguội, trạng thái trao đổi chất tốt, acid lactic tích tụ trong tổ chức cơ bắp giảm thiểu, do vậy không dễ cảm giác mỏi mệt, hơn nữa nguyên tố Ca, Mg trong nước đun rất có ích đối với sức khỏe.

 Sáng dậy, uống nước sôi để nguội 20 – 25oC là lựa chọn tốt cho sức khỏe
Nước mật ong Tương tự, sáng thức dậy uống một tách nước mật ong càng khoa học. Cơ thể sau khi trải qua một đêm ngủ, phần lớn nước trong cơ thể đã được bài tiết và hấp thu, lúc đói uống một tách nước mật ong, vừa bổ sung phần nước, vừa tăng dinh dưỡng, hoàn toàn có thể thay thế nước đun.
Nước chanh
Nếu quan tâm đến kiến thức làm đẹp và giảm béo qua sách báo, bạn sẽ khám phá rằng, táo bón là một trong những “hung thủ” kết liễu vóc dáng, vẻ đẹp của bạn. Đúng vậy, một khi táo bón hình thành, chất bã tồn đọng dần sẽ biến thành độc tố, phản ánh đến làn da của bạn. Cho nên, mỗi sáng thức dậy, tốt nhất trước khi ăn, uống một tách chanh tươi pha với nước đun. Chớ xem thường tách nước xổ độc này, nó không chỉ là chất trung hòa kiềm toan cơ thể tốt nhất, mà còn đạt hiệu quả trừ táo bón, bài trừ độc tố. Ngoài ra, nếu có “hôi” miệng, tách nước chanh có sự cải thiện thần kỳ.
Nước muối nhạt
Không ít người cho rằng uống nước muối nhạt có ích cho sức khỏe, sáng thức dậy thì dùng nước muối nhạt, đây là hiểu biết sai lầm. Nghiên cứu cho thấy, khi ta ngủ cả đêm chưa uống một giọt nước nào, mà việc hít thở, ra mồ hôi, bài tiết nước tiểu vẫn được tiến hành, những hoạt động sinh lý này cần tiêu hao rất nhiều nước.
Sáng thức dậy uống nước đun, làm cho máu huyết loãng nhanh, “uốn nắn” sự thoát nước tính thẩm thấu cao cả đêm. Trái lại, uống nước muối nhạt càng tăng thoát nước tính thẩm thấu cao, làm cho ta càng khô miệng. Mặt khác, sáng sớm là giờ “cao điểm” đầu tiên tăng huyết áp, uống nước muối nhạt sẽ làm huyết áp tăng cao.
Nước trái cây
Có người cho rằng sáng ngủ dậy uống một tách nước trái cây tươi có tác dụng giải khát, lại có dinh dưỡng, nhưng bạn đã sai lầm. Uống tách nước trái cây lúc này không thể cung cấp phần nước cần thiết nhất cho cơ thể, hơn nữa dưới trạng thái thiếu nước đã “bắt” đường ruột tiến hành công việc, không tốt cho sức khỏe. Nếu lúc này uống nước trái cây, coca, nước ngọt… bán trên thị trường càng là sai lầm lớn, thức uống chứa cacbonate như coca và nước ngọt sẽ tăng đào thải canxi, uống sáng sớm không thể bổ sung phần nước thiếu cho cơ thể hiệu quả mà còn sẽ làm tăng nhu cầu nước của cơ thể.
Sữa bò
Sáng uống sữa bò tốt, nhưng với “tách đầu tiên” thì sai, uống sữa bò lúc đói chẳng qua là “xuyên qua ruột”, dạ dày tiêu hóa không kịp, ruột non hấp thu không kịp, giá trị dinh dưỡng của sữa bò cũng không “thể hiện” được, còn có người xảy ra phản ứng “dị ứng” như bụng đầy hơi, việc tốt biến thành việc xấu. Do vậy, sáng uống sữa bò được dùng như “bữa ăn sáng”, hơn nữa nhất định cần dùng chung với carbohydrate, có vậy mới phát huy giá trị dinh dưỡng của protid.
LY.DS. BÀNG CẨM

Bài trừ độc tố cho tỳ vị

Dược Đông Á - dap.vn (Nguồn:  Sức Khỏe & Đời Sống)

Tỳ là một cơ quan đặc nằm bên trái của vị (dạ dày) có chức năng hấp thu và vận chuyển chất dinh dưỡng. Tỳ và vị hợp tác với nhau để hấp thu thức ăn và chuyển vận chất dinh dưỡng. Do đó, việc bài trừ độc tố ở tỳ rất quan trọng.

Biểu hiện:

1. Mặt nổi tàn nhang hoặc vết màu đen.

Phụ nữ có tàn nhang hoặc vết đen thông thường chức năng tiêu hóa hơi yếu.

2. Bạch đới (dịch trắng) quá nhiều.

Tỳ chủ quản bài tiết ẩm trong cơ thể, nếu khí ẩm quá nhiều, vượt qua khả năng của tỳ, sẽ xuất hiện cơ thể có khí ẩm quá thịnh, dịch trắng tăng nhiều là một trong những biểu hiện đó.

3. Tích tụ chất béo: Chất béo trong đông y còn có một tên khác: đàm thấp (đờm) là do chức năng tiêu hóa của tỳ không tốt, không kịp thời bài từ độc tố rác rưởi ra ngoài cơ thể. Phương pháp giảm béo hữu hiệu cần phải xoay quanh chủ đề khôi phục sự trao đổi bình thường của đờm để giảm, nếu không giảm được béo rồi lại sẽ béo lại.\

4. Mọc mụn hoặc lở loét quanh miệng: Xung quanh miệng đều thuộc tỳ, khi độc tố trong tỳ không thể bài trừ ra ngoài cơ thể, độc tố tích tụ sẽ tìm cơ hội bộc phát ra ngoài từ những vị trí trên.

Bài trừ trừ độc tố


1. Ăn chua: Ví dụ như giấm, ô mai, các loại quả chua là những thực phẩm tốt nhất để hóa giải độc tố trong thức ăn, đồng thời có thể tăng cường chức năng tiêu hóa của dạ dày, đường ruột, làm cho độc tố trong thức ăn trong thời gian ngắn nhất bị bài trừ ra ngoài. Ngoài ra, thực phẩm vị chua còn có công dụng khỏe tỳ, xứng đáng mang danh “thực phẩm chống độc”.

2. Ấn huyệt: Đây là chỉ thương khâu huyệt, vị trí nằm ở điểm lõm dưới phía trước của mắt cá chân, dùng ngón tay ấn nhẹ vào huyệt này, cho tới lúc cảm thấy đau buốt, mỗi lần ấn khoảng 3 phút, hai chân thay nhau.

3. Đi dạo sau khi ăn: Vận động có thể giúp cho tỳ tiêu hóa, đẩy nhanh tốc độ bài trừ độc tố ra ngoài, tuy nhiên cần phải kiên trì trong thời gian dài thì mới có hiệu quả tốt.

Thời điểm tốt nhất để bài trừ độc tố

Sau bữa ăn là thời gian dễ sản sinh ra độc tố nhất, nếu thức ăn không kịp thời được tiêu hóa hoặc hấp thụ, độc tố sẽ tích tụ lại càng nhiều. Ngoài việc đi bộ sau bữa cơm thì sau bữa cơm 1 tiếng có thể ăn hoa quả, giúp khỏe tỳ, bài trừ độc tố bởi vì vị ngọt có tác dụng khỏe tỳ.
Nguồn:  Sức Khỏe & Đời Sống
Cập nhật lần cuối:  10/04/2012 10:30:32 AM

Ăn gì để bài độc cho cơ thể?

suckhoedoisong.vn - Thứ Hai, 15/06/2009 11:21
Các chế phẩm từ quá trình chuyển hóa protid, glucid, lipid và chất bã từ tiêu hóa, phân hủy thức ăn trong đường ruột là nguồn độc tố chính trong cơ thể. Làm thế nào để hóa giải những nguy cơ nhiễm độc? Thực tế, có một số thức ăn sẽ giúp cơ thể giải độc được trình bày dưới đây.
Cà chua: Chứa lycopene, vitamin A, C, acid folic, K… thúc đẩy tiêu hóa và hấp thu, dự phòng táo bón, tác dụng cân bằng độ pH trong cơ thể, dự phòng gây ra hiện tượng viêm, đau do máu bị acid hóa tạo thành.
Nấm mèo đen: Chứa nhiều Se chống lão hóa, có tác dụng giải độc đối với thủy ngân (Hg), cadimi (Cd)… giúp nhuận trường, thanh phế, hạ áp, giảm cholesterol, nâng cao chức năng miễn dịch của cơ thể.
Cà rốt: Chứa beta-caroten, K, Ca, Mg, Fe… trung hòa độc tố, tiêu trừ gốc tự do, dự phòng tế bào xảy ra đột biến và cơ thể lão hóa, tiêu trừ vi khuẩn thối rữa trong đường ruột, tăng số lượng vi khuẩn có ích.
Khổ qua (mướp đắng): Chứa vitamin A, nhóm B, C, acid malic, Ca… tác dụng hạ đường huyết thấy rõ, có hiệu nghiệm nhất định đối với bệnh đái tháo đường, vừa có khả năng nhất định chống virus và công hiệu phòng ngừa ung thư.
Nấm hương: Chứa polysaccharide, vitamin A, B1, B2, D, Ca, P, Fe… thúc đẩy sự trao đổi chất của tế bào, trợ giúp độc tố trong cơ thể bài tiết ra ngoài, nâng cao sức miễn dịch, dự phòng virus xâm nhập, đào thải chất bã ra ngoài cơ thể.

Tỏi: Chứa vitamin B1, C, diallyl , Ca, P, Fe… thúc đẩy dịch tiêu hóa bài tiết thông thoáng, tăng sự thèm ăn, tiêu trừ gốc tự do trong cơ thể, dự phòng lão hóa, diệt vi sinh độc hại trong đường ruột, tránh táo bón, thúc đẩy tế bào trao đổi chất, giãn các mao mạch, dự phòng dị ứng hiệu quả. Củ mài: Chứa vitamin A, C, P, K, Se… giúp “chỉnh đốn” hệ tiêu hóa, giảm tích tụ mỡ dưới da, tránh béo phì, bên cạnh tăng chức năng miễn dịch.
Củ cải: Chứa vitamin A, C, E, K, P, Zn, Se… có hiệu quả lợi tiểu rất tốt, chứa cellulose còn giúp bài tiện, có lợi cho việc giảm béo phì.
Mật ong: Chứa vitamin nhóm B, D, E, fructose, K, Na, Fe, acid lactic, acid malic… thường dùng đạt hiệu quả đào thải độc tố, nhuận trường thông, dưỡng nhan làm đẹp, có ưu điểm đối với việc phòng trị bệnh tim mạch và thần kinh suy nhược.
Táo tây: Chứa vitamin A, nhóm B, C, Ca, P, Fe, K, acid malic, acid citric… trợ giúp tiêu hóa, kích thích nhu động đường ruột, thông tiện, hạ áp, cholesterol, hỗ trợ đào thải muối natri và phần muối thừa ra ngoài cơ thể.
Dâu tây: Chứa acid tannic, pectin, C, B1, B2, Ca, Mg, P, Fe… có hiệu quả ức chế virus tăng trưởng, tránh virus phát tán, chống oxy hóa, dự phòng lão hóa, phòng ngừa tế bào lành đột biến thành tế bào ung thư.
Quả vải: Chứa vitamin A, nhóm B, C, pectin, acid amino tự do, Fe, P, Ca… có công năng giải độc trị tả, bổ thận ích tinh, cải thiện chức năng gan, tăng tốc bài trừ độc tố, thúc đẩy sản sinh tế bào, làm làn da mịn màng…
Chanh: Chứa acid citric, acid malic, vitamin A, nhóm B, C, Ca, P, Fe… dự phòng hạt sắc tố lắng đọng, thường dùng giúp làn da trắng nõn, chất tóc trơn mượt, có công hiệu tiêu trừ mỏi mệt và căng thẳng, phục hồi thể lực.
Quả hạch: Chứa acid béo không bão hòa, vitamic C, E, Mg, Cu, Mn, Se, Ca, P, Fe, vitamin nhóm B, acid folic… dự phòng xơ cứng động mạch, trung hòa gốc tự do, trì hoãn tổ chức bị lão hóa, dự phòng táo bón, bài trừ độc tố trong cơ thể, kích hoạt hệ miễn dịch, dự phòng ung thư, tiêu trừ chất béo oxy hóa trong cơ thể, giảm tích tụ lượng acid lactic trong cơ bắp, tránh mỏi cơ mất sức, cải thiện mỏi mệt.
Mầm lúa mì: Chứa vitamin E, nhóm B, octocosanol, Mn, P, K, acid folic… giảm hiện tượng chất béo oxy hóa, giảm bệnh tim mạch, thúc đẩy sức khỏe làn da, dự phòng xơ cứng động mạch và tránh lão hóa, tăng sức bền, giảm đau cơ sau khi tập luyện.
Yến mạch: Chứa cellulose, vitamin PP, K, Mg, Zn, Se… giúp hoạt trường thông tiện, phối hợp cellulose thúc đẩy nhu động đường ruột, phát huy tác dụng thông tiện bài độc.
Gan động vật: Chứa vitamin A, E, K, nhóm B, acid nicotinic, acid folic, acid pantothenic, Zn, Cu, Se, P, Mo… điều tiết trao đổi chất của làn da, bảo vệ niêm mạc da và mũi miệng, khí quản, phổi, cải thiện triệu chứng mệt mỏi do mất sức toàn thân, trung hòa gốc tự do, kích hoạt hệ miễn dịch, ngừa ung thư, khống chế cholesterol lắng đọng.
Thịt bò: Chứa vitamin C, D, E, nhóm B, Zn, Fe… tiêu trừ mỏi mệt và nâng cao sức miễn dịch, cải thiện mỏi mệt toàn thân, phòng ngừa hiện tượng xơ cứng động mạch và lão hóa.
Thịt cá: Chứa vitamin nhóm B, C, D, E, Zn, P, K, EPA, DHA… giúp tu bổ và kiến tạo tổ chức cơ thể, đảm bảo huyết áp bình thường, điều tiết cũng như tham dự dẫn truyền thần kinh, bài ra phần nước dư thừa, giảm tỷ lệ viêm đường tiết niệu, lọc máu, dự phòng bệnh mạn tính, cải thiện cơ thể mỏi mệt.
Bo bo: Chứa cellulose, vitamin B1, B2, K, Ca, Fe... thúc đẩy vi khuẩn có ích trong đường ruột sinh sôi, trao đổi chất của máu và nước, giảm cholesterol, phòng trị táo bón.
Đậu đỏ: Chứa vitamin B1, B2, K, PP, Ca, Mg, Cu, Zn… tiêu trừ thủy thũng, đào thải độc tố trong cơ thể, lọc máu, giảm mỡ máu và phân giải độc tố, nâng cao sức miễn dịch của cơ thể.
Đậu xanh: Chứa cellulose, vitamin A, B1, B2, PP, acid folic, Ca, P, Fe, Na… thường dùng giúp ruột non giảm hấp thu với cholesterol, trợ giúp cho kết cấu thần kinh và sự tạo thành chất dẫn truyền thần kinh, giúp giảm huyết áp và cholesterol.
Đậu đen: Chứa cellulose, P, Fe, Ca, Na, saponin, isoflavon, vitamin E, anthocyanidin… thúc đẩy chuyển hóa cholesterol, giảm mỡ máu, giảm sự uy hiếp của bệnh tim mạch, là chất chống oxy hóa, thải trừ gốc tự do, trì hoãn lão hóa, thúc đẩy nhu động đường ruột, dự phòng táo bón.
Khoai lang: Chứa glycosides, K, vitamin C, E, beta-caroten… tiêu trừ gốc tự do, dự phòng tế bào đột biến và lão hóa cơ thể, nâng chức năng gan, thận, tiêu trừ mỏi mệt, nâng cao nguyên khí, trợ giúp chức năng bài tiết của đường ruột, dự phòng táo bón.
Củ sen: Chứa cellulose, vitamin C, E, K, Mg, Zn, P… tác dụng lợi tiểu, thúc đẩy chất bã trong cơ thể tăng tốc bài tiết ra ngoài, từ đó “làm sạch”mạch máu. Củ sen thích hợp cho cả ăn sống và chín, dùng củ sen xay ra nước cốt.
Hải tảo (rong biển): Chứa K, Ca, Mg, I, cellulose… Ăn nhiều rong biển giúp đảm bảo cân bằng kali và natri, giảm huyết áp, giảm hàm lượng cholesterol, tiêu trừ gốc tự do, dự phòng lão hóa.
Gạo lứt: Chứa vitamin A, E, B1, B2, B6, C, acid nicotinic, Na, Fe, Mg, P, Zn, Ca… tăng tốc nhu động đường ruột, dự phòng táo bón, thúc đẩy chuyển hóa cholesterol, giảm cholesterol máu, giảm tốc độ hấp thu và tiêu hóa, ổn định đường huyết hiệu quả, trợ giúp tuyến tụy bài tiết insulin, giúp người bệnh đái tháo đường khống chế đường huyết.
Củ hành: Chứa diallyl sulfide, vitamin B, C, tinh bột… nâng cao công hiệu tế bào miễn dịch, giảm cholesterol, dự phòng huyết khối và xơ cứng động mạch, ức chế hấp thu chất béo, giảm tích tụ mỡ trong cơ thể, điều tiết nhóm khuẩn đường ruột, thúc đẩy nhu động đường ruột, bài xuất độc tố.
Gừng: Chứa tinh dầu, zingeron, zingenola, K… kích hoạt chuyển hóa các chất, có tác dụng chống oxy hóa, trung hòa gốc tự do, trì hoãn hiện tượng lão hóa, hiệu ứng kháng viêm, dự phòng xơ cứng động mạch.
Hành: Chứa diallyl sulfide, acid folic, glycosides, vitamin C, P, Fe… đạt hiệu quả trong việc tiêu trừ mỏi mệt, bồn chồn bất an, hóa giải tay chân lạnh, cường hóa hệ miễn dịch, nâng sức đề kháng cơ thể.
Bó xôi: Chứa beta-caroten, acid folic, Mg, K, Fe, vitamin K… giúp chống oxy hóa, tu bổ tế bào bị hủy hoại, giảm sự xâm nhập của gốc tự do, đảm bảo sức khỏe làn da, dự phòng khô nứt, bảo vệ hệ thần kinh, hệ tiêu hóa và sự phát triển bình thường của bạch cầu, điều tiết co cơ, đảm bảo sức khỏe tim mạch, lợi tiểu, bài ra phần nước thừa trong cơ thể.
Măng tây: Chứa asparagine, vitamin A, K… có tác dụng lợi tiểu, giúp bài ra phần nước thừa trong cơ thể, giúp bài độc.
Lương y Bàng Cẩm

Tổn thương đường tiêu hóa sau uống rượu

suckhoedoisong.vn

Thứ Tư, 22/02/2012 08:10
Ít ai để ý rằng bia rượu quá đà có ảnh hưởng không nhỏ đến đường tiêu hóa, gây ra các triệu chứng rối loạn tiêu hóa hay viêm đại tràng, viêm loét dạ dày… Các biểu hiện này nếu không được giải quyết kịp thời sẽ dẫn tới thiếu hụt dinh dưỡng, người gầy yếu, xanh xao, buồn bực khó chịu, thậm chí là có khả năng ung thư, nguy hiểm về tính mạng.
Hai tổn thương phổ biến sau uống rượu
Hội chứng viêm dạ dày cấp, người bệnh có biểu hiện đau vùng thượng vị dữ dội, cồn cào, nóng rát, có khi âm ỉ, ậm ạch khó tiêu, buồn nôn hoặc nôn nhiều, ăn xong nôn ngay, nôn hết thức ăn thì nôn ra dịch chua, có khi nôn cả ra máu, lưỡi bẩn, miệng hôi, sốt 39 - 400C. Để điều trị viêm dạ dày cấp, người bệnh phải ngưng ngay việc sử dụng các chất có hại cho dạ dày.
Thức ăn phải loãng, mềm, dễ tiêu và đủ dinh dưỡng để bảo vệ niêm mạc dạ dày. Nên ăn chậm, nhai kỹ, giữ khoảng cách đều đặn, hợp lý giữa các bữa ăn. Lúc đầu, nên ăn những thức ăn loãng; sau đó, người bệnh có thể dần dần ăn những thức ăn đặc hơn. Nếu người bệnh nôn nhiều, bị mất nước, cần được bù nước điện giải bằng đường tiêm truyền tĩnh mạch. Trong bệnh viêm dạ dày cấp tính, quá trình viêm diễn ra từ vài giờ đến vài ngày, hồi phục nhanh và hoàn toàn.
Tuy nhiên, nếu người bệnh không hạn chế những thực phẩm gây tổn thương niêm mạc dạ dày như rượu, bia, ớt, tỏi..., những món ăn gây khó tiêu như chất béo, thức ăn chiên xào hay những thực phẩm gây đầy hơi như nước giải khát có ga, sữa bò... thì viêm dạ dày cấp rất dễ tái phát và nếu bị nhiều đợt có thể chuyển thành viêm mạn tính do niêm mạc bị phá huỷ liên tiếp và có vai trò của cơ chế miễn dịch.
Hội chứng ruột kích thích: Không “ồn ào” như viêm dạ dày cấp, biểu hiện chính của hội chứng ruột kích thích xuất hiện sau nhậu nhẹt là tình trạng tiêu chảy cấp hoặc đại tiện sệt, lỏng ngày 3-4 lần, nhất là buổi sáng ngày hôm sau của những cuộc nhậu. Đi lỏng thường kèm theo với đau bụng hoặc không. Trước khi đại tiện thấy đau ê ẩm hoặc đau quặn, đại tiện xong thường thấy dễ chịu. Có người còn cảm thấy đau tức, khó chịu ở hậu môn, mót đi ngoài hoặc có cảm giác như đi chưa hết phân, có khi phải ngồi lâu mặc dù phân lỏng.
Phân lỏng, nát nhưng có thể đoạn đầu cứng mà đoạn sau nát. Trong ngày, phân lần đầu nát nhưng các lần sau lẫn nhày hoặc toàn nhày. Nhiều khi bệnh nhân còn có cảm giác ậm ạch, khó tiêu, no hơi, nặng bụng, trướng bụng, có khi buồn nôn và nôn. Các biểu hiện trên có thể kéo dài vài ngày, có thể tự khỏi mà không cần điều trị. Tuy nhiên, tình trạng trên lại tiếp tục xảy ra sau khi uống rượu, bia nhiều và theo thời gian, nó có thể làm cho bệnh lý trở nên trầm trọng hơn, gây ra những tổn thương thực thể ở cơ quan tiêu hóa nếu không điều trị kịp thời.

 Viêm dạ dày cấp tính là biểu hiện dữ dội ở đường tiêu hóa thường gặp sau uống rượu.
Hai nhóm căn nguyên chính Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên nhưng có thể gói gọn lại thành 2 nhóm nguyên nhân chính là do thực phẩm (bao gồm cả rượu, bia) và các rối loạn nhu động ruột.
Các nguyên nhân do thực phẩm bao gồm: Ăn uống quá nhiều chất béo, gia vị, ăn quá nhanh, nhai không kỹ… Thực phẩm sử dụng tại bàn nhậu như rau quả, các loại thịt, cá, hải sản… không bảo đảm vệ sinh trong chế biến, sử dụng phẩm màu độc hại để bảo quản hoặc tái sử dụng thực phẩm không bảo đảm chất lượng. Nguồn gốc rượu, bia không rõ ràng; sử dụng rượu, bia kém chất lượng hoặc tự nấu, tự ngâm không đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Sử dụng nước đá không bảo đảm vệ sinh.
Các nguyên nhân do rối loạn nhu động ruột: là do việc sử dụng quá nhiều rượu, bia làm mẫn cảm hệ thần kinh trung ương nói chung và thay đổi hoạt động của hệ thần kinh giao cảm chi phối hệ tiêu hóa dẫn đến rối loạn nhu động của ống tiêu hóa. 

Có dự phòng được những hệ lụy do uống bia, rượu?
Nguyên tắc hàng đầu là không lạm dụng rượu, bia. Nếu phải ăn nhậu, nên chọn quán ăn có uy tín, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm; không sử dụng đồ ăn thức uống không rõ nguồn gốc. Khi đang có triệu chứng rối loạn tiêu hóa, nên tránh ăn các thức ăn, nước uống không thích hợp, hạn chế các thức ăn khó tiêu, dễ sinh hơi (như khoai, sắn, bánh ngọt nhiều bơ, hoa quả có nhiều đường, đồ uống nhiều đường và có ga, chất kích thích), những thức ăn để lâu hoặc bảo quản không tốt.      
ThS. Nguyễn Bạch Đằng

Liệu pháp điều trị ung thư trực tràng

Dược Đông Á - dap.vn
Gần đây, hiểu biết bệnh ung thư đã có một bước đột phá nhờ các tiến bộ về sinh học. Tiến trình sinh học ung thư ngày càng hiểu rõ hơn ở mức độ phân tử, làm cơ sở cho một liệu pháp hóa trị mới: Liệu pháp nhắm đích phân tử (Moleculaly Targeted Therapies) hay liệu pháp trúng đích.
Liệu pháp điều trị (LPĐT) là dùng các loại thuốc để khoá sự tăng trưởng và lan tràn của ung thư, can thiệp vào các phân tử đặc hiệu trong cơ chế sinh ung thư và sự tăng trưởng của khối u. Đa số các liệu pháp này còn ở giai đoạn thử nghiệm tiền lâm sàng hoặc ở giai đoạn thử nghiệm lâm sàng. LPĐT được nghiên cứu để dùng riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau, hoặc kết hợp với các liệu pháp khác như hóa trị.

Các thuốc LPĐT ứng dụng trong điều trị ung thư trực tràng (UTTT)

Phân tử nhỏ ức chế dẫn truyền

Herceptin (trastuzumab) - được FDA công nhận là loại LPĐT đầu tiên (1998), hiện đang được thử nghiệm lâm sàng đối với UTTT.

Gliver hay gleevec (Imanitib): tháng 2/2002, FDA phê chuẩn; tháng 5/2003, EU phê chuẩn; tháng 7/2003, Nhật Bản phê chuẩn gilver trong điều trị UTTT không mổ được hoặc đã di căn xa.

Ertitux (cetuximab): công nhận năm 2004, có vai trò trong UTTT di căn, đã thất bại với phác đồ hoá trị khác.


Các thuốc kháng sinh mạch:

Avastin (bevacizumab) được FDA (2004) công nhận là loại thuốc kháng sinh mạch đầu tiên, dùng điều trị UTTT di căn khi các phác đồ hoá trị khác thất bại.

Thuốc kháng sinh mạch cản trở sự phát triển các mạch máu mới nuôi dưỡng khối ung thư. Nghĩa là phương pháp này có thể “bỏ đói” các khối u bằng cách cắt đứt đường dẫn máu đến nuôi chúng. Sự sinh mạch trong một khối u được điều hòa vài hoá chất do cơ thể sản sinh để kích thích tế bào sửa chữa các mạch máu bị hư hại hoặc tạo ra mạch máu mới. Thuốc kháng sinh mạch ức chế các chất này. Kết quả là các khối u sẽ tan dần đến kích thước thật nhỏ và “ngủ yên”.

Xạ trị trong UTTT

Năm 1890, thế giới bắt đầu ứng dụng tia X của Roentgen và tia gamma của Marie Curie vào điều trị ung thư. Từ 1983 –1987, thử nghiệm tia xạ lâm sàng trước - sau mổ của tổ chức nghiên cứu điều trị ung thư châu Âu - EORTC đã xác nhận hiệu quả của tia xạ trong điều trị UTTT.

Xạ trị trước mổ với mục đích:

- Làm giảm tỷ lệ di căn và tái phát tại chậu hông;

- Làm giảm kích thước khối u và di căn hạch vùng trước mổ;

- Làm giảm tỷ lệ viêm ruột do ruột non ít dính vào chậu hông hơn;

- Lợi dụng tính chất đáp ứng tia xạ tốt hơn do tế bào ung thư được cung cấp oxy đầy đủ.

Có thể phối hợp xạ trị cả trước và sau mổ làm giảm tỷ lệ tái phát tại chỗ. Tuy vậy, tia xạ trước mổ bệnh nhân chịu đựng tốt hơn tia xạ sau mổ. Ngoài ra, ở những trung tâm lớn, xạ trị trong khi mổ cũng đã được ứng dụng cho khối u lớn. Xạ trị trong mổ có thể tránh được tổn hại các cơ quan bằng cách chọn lọc. Kết hợp với xạ trị trước mổ làm giảm tỷ lệ tái phát và tăng thời gian sống thêm sau 5 năm.

Liệu pháp miễn dịch trong điều trị UTTT


Một phương pháp điều trị đầy hứa hẹn được thêm vào kho vũ khí chống bệnh ung thư là liệu pháp miễn dịch hay liệu pháp sinh học. Ngày nay, liệu pháp miễn dịch được xem như là “mô thức thứ tư” hay là vũ khí thứ tư chống ung thư. Ba mô thức kia là phẫu trị, xạ trị và hóa trị. Liệu pháp này dùng cả khả năng miễn dịch của cơ thể để chống lại bệnh ung thư. Liệu pháp miễn dịch có khi được dùng riêng lẻ nhưng thường được sử dụng như một biện pháp hỗ trợ (nghĩa là dùng cùng lúc hoặc tiếp sau các liệu pháp khác) để giúp thêm tác dụng chống ung thư của liệu pháp chính. Lĩnh vực này trong vài năm trở lại đây đã có những bước tiến đáng kể.

Phẫu thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng và bảo tồn thần kinh tự động vùng chậu (ANP)

Năm 1979, Heald là nguời có công đầu tiên phát hiện ra trực tràng có mạc treo. Bằng nghiên cứu của mình, ông đã mô tả mạc treo trực tràng gồm 2 lá ôm lấy phần bóng trực tràng và ống hậu môn như 2 mông của trẻ con. Những kết quả nghiên cứu của ông và các tác giả khác sau này đã khẳng định có sự hiện diện của tế bào ung thư trong mạc treo trực tràng. Đây là nguyên nhân dẫn đến việc tái phát ung thư sau mổ. Từ năm 1982 đến năm 1987, luận điểm của ông được thế giới công nhận và nhiều tác giả khác đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này.
Nguồn:  Sức Khỏe & Đời Sống

Bài thuốc hay chữa VIÊM LOÉT ĐẠI TRÀNG

www.thaythuoccuaban.com
Biện chứng đông y: Tì vị dương hư, không thể vận hóa thủy cốc.
Cách trị: Tư bổ tì vị, sáp tràng, chỉ tả.
Đơn thuốc: Tam vị chỉ tả tán.
Công thức: Sơn dược 150g, Kha tử nhục 60g, Thạch lựu bì 60g.
Tán chung thành bột mịn, mỗi ngày dùng 3 lần, mỗi lần 4,5 g. Uống lúc đói.
Hiệu quả lâm sàng: Tào XX, nữ 43 tuổi, cán bộ. Ngày 10/4/1971 tới khám lần đầu. Bệnh nhân mắc bệnh đã hơn 3 nǎm. Hiện bệnh tình chủ yếu là: cứ khoảng 3 giờ chiều là cảm thấy chóng mặt, đau đầu, tim đập dồn dập, lợm giọng, bụng đầy, không muốn ǎn uống, ngày đi ỉa chảy 5-6 bận, không tiêu hóa thức ǎn, bụng ngâm ngẩm đau, thích ấn, người mệt mỏi, sắc mặt vàng vọt, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch huyền tế vô lực. Tây y soi dạ dày, ruột bằng barit chẩn đoán viêm loát đại tràng. Bệnh này có nguyên nhân là bởi tì vị dương hư, không chuyển hóa được thức ǎn gây ra. Chữa nó phải tư bổ tì vị, sáp tràng chỉ tả, Cho dùng bài thuốc tự chế là tam vị chỉ tả tán. Uống trong 20 ngày, ỉa chảy giảm xuống 2-3 lần một ngày, ǎn uống có hơi tǎng lên, tiêu hóa tốt hơn, các chứng khác cũng thuyên giảm, mạch trở nên hoãn vô lực. Đó là biểu hiện tì vị dần dần khôi phục chức nǎng vận hóa. Uống tiếp một đợt nữa, bệnh khỏi.
Bàn luận: Trường hợp bệnh nhân này là chức nǎng vận hóa của trường vị mất điều hòa, biểu hiện bằng ỉa chảy, thức ǎn không tiêu hóa. Phần Tí luận trong sách Tố vấn chép rằng: "Doanh, là tinh khí của thủy cốc (thức ǎn), điều hòa ngũ tạng, tưới khắp lục phủ, có thể vào mạch... Vệ, là hãn khí của thủy cốc, khí này nhanh, hoạt lợi, không htể vào mạch được, mà tuần hoàn trong da, trong thịt". Tinh vi không thể biến hóa để sinh ra Doanh, Vệ khí huyết, nên mới thấy chóng mặt, tim đập, tâm thần mệt mỏi trì trệ. Đau đầu là huyết hư không được nuôi dưỡng, mạch huyền tế vô lực là Doanh Vệ khí huyết không đủ, phải kíp dùng thuốc bổ tì vị, cầm đi tả, tinh vi dược hóa, khí huyết dồi dào, Doanh Vệ lưu thông thì mới khỏi được. Trọng dụng sơn dược ngọt, bình, vị nhạt, bổ khí tì vị. Kha tử nhục đắng, chua chát, ôn để sáp tràng cầm đi tả, nhờ thế bệnh tuy lâu ngày nhưng vẫn thu được kết quả rất tốt.

Viêm loét đại tràng

Biện chứng đông y: Tì khí hư nhược, kèm huyết ứ.
Cách trị: ích khí kiện tì, hoạt huyết hóa ứ.
Đơn thuốc: ích khí bổ tì hóa ứ thang
Công thức: Hoàng kỳ 30g, Đảng sâm 15g, Bạch truật 10g, Phục linh 15g, Dĩ nhân 30g, Sơn dược 15g, Đan sâm 30g, Xích thược 15g, Xuyên khung 15g, Đan bì 15g. Sắc uống mỗi ngày một thang.

Viêm loét đại tràng mạn

Biện chứng đông y: Thấp nhiệt, tràng tích.
Cách trị: Hoạt huyết trục ứ, thanh nhiệt khử thấp.
Đơn thuốc: Gia vị cách hạ trục ứ thang.
Công thức: Đào nhân 15g, Đan bì 10g, Xích thược 10g, Ô dược 15g, Nguyên hồ 10g, Cam thảo 10g, Xuyên khung 15g, Đương qui 15g, Linh chi 10g, Hồng hoa 10g, Chỉ xác 10g, Hương phụ 15g, Công anh 50g, Tra thán 50g, Hoàng liên 10g, Xa tiền 15g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Hiệu quả lâm sàng: Theo dõi điều trị trên 10 trường hợp, người bị bệnh ngắn nhất là 6 tháng, lâu nhất là 3 nǎm, trung bình đã mắc bệnh một nǎm rưỡi. Dùng thuốc ít nhất là 16 thang, nhiều nhất là 30 thang. Chữa khỏi hoàn toàn 8 trường hợp, còn 2 trường hợp lâm sàng đã khỏi, về sau lại tái phát.

Viêm loét đại tràng mạn

Biện chứng đông y: Tì vị dương hư, nhiệt độc khốn trở.
Cách trị: Ôn dương cố thận, bổ tì hóa thấp.
Đơn thuốc: Ôn dương chỉ tả thang.
Công thức: Hoàng kỳ 20g, Đảng sâm 20g, Can khương 6g, Cam thảo (nướng) 6g, Ngũ vị tử 6g, Khổ sâm 6g, Ngô thù du 6g, Phá cố chỉ 10g, Tam lǎng 6g, Bạch truật 10g, Vân tàm sa 30g, Địa du 10g.
Sắc uống, mỗi ngày 1 thang. Bệnh nhân quá hàn thêm Phụ tử 10g, phân nhiều dịch nhầy thêm Bồ công anh 20g, đi ngoài ra máu thêm Điều thất 6g, A giao 10g, đau bụng thêm Diên hồ sách 10g.
Hiệu quả lâm sàng: Dư X, nữ, 52 tuổi. Đau bụng ỉa chảy đã hơn 20 nǎm. Qua kiểm tra đại tràng bằng ống soi mềm và các phương pháp khác chẩn đoán là viêm loét đại trạng mạn tính. Đại tiện mỗi ngày 3-4 bận, phân loãng nát lẫn chút dịch nhầy, đôi khi thấy có máu. Bụng khó chịu, kém chịu rét, nếu để lạnh bụng hoặc lưng thì ỉa chảy tǎng lên, chườm nóng thì đỡ đau. Lại thấy đau dạ dày, hễ thức ǎn lạnh, sống là đau dạ dày và đau bụng dữ dội. Miệng nhạt, nhiều nước dãi, toàn thân mệt mỏi, sắc mặt sạm đen, không bóng, mi mắt hơi mọng, ǎn kém, sợ ǎn mỡ, ǎn đồ béo vào thì đi ngoài càng nặng. Dạ dày thường cǎng đầy khó chịu, có lúc ợ hơi, nhưng không nôn chua. Mạch trầm tế, lưỡi tím sạm, rêu trắng nhuận, rìa lưỡi có hằn rǎng. Đã từng chữa chạy bằng nhiều phương pháp nhưng hiệu quả không rõ rệt. Nay điều trị bằng bài Ôn dương chỉ tả thang có gia giảm. Uống 5 thang, đau bụng giảm hẳn. Đại tiện giảm còn 2 bận một ngày. Uống tiếp trong 1 tháng, hết hẳn đau bụng, phân không còn chất nhầy, dạ dày hết khó chịu. Số lần đi đại tiện cơ bản khôi phục như bình thường, nhưng phân chưa thành khuôn. Liền bỏ vị Khổ sâm, tǎng Nhục quế 1g vào bài thuốc trên, cho uống tiếp 1 tháng nữa, đại tiện ngày còn 1-2 lần, phân thành khuôn, không còn chất nhầy. Kiểm tra đại trạng bằng ống soi mềm thấy các chỗ xung huyết hoặc loét giảm nhẹ, vết loét nông lại. Nhưng sau đó do viêm cấp đường tiết niệu nên phải dừng uống bài thuốc trên để chữa bệnh mới. Sau khi khống chế được viêm nhiễm, lại uống tiếp bài Ôn dương chỉ tả thang có gia giảm để củng cố hiệu quả. Theo dõi hơn một nǎm, bệnh nhân không bị tái phát.

VIÊM ĐẠI TRÀNG
www.thaythuoccuaban.com

Viêm đại tràng là một bệnh tiêu hóa, Đại tràng là cơ quan phụ trách việc tống cặn bã và khí độc xuống dưới rồi bài tiết ra ngoài cơ thể.  Khi độc khí giáng xuống bị trở ngại sẽ nghịch lên làm cho ngực bụng đầy tức, đại tiện táo, hoặc nát, khó đi, hoặc phân nhỏ đi không thoải mái, đại tràng co thắt, dùng thang "VDT co thắt" và viên "VIÊM ĐẠI TRÀNG HOÀN" là bệnh khỏiviêm đại tràng, viem dai trang, đại tràng

       Nếu cứ ăn đồ sống lạnh là bị đi ngoài dùng, đầy bụng khi đang bị nhai vài viên "VIÊM ĐẠI TRÀNG HOÀN" bụng lập tức dễ chịu, hết đi ngoài. Nếu uống vài tháng thì Tỳ, Vị, Đại tràng khỏe mạnh ăn gì cũng được.

       Nếu Bụng trướng cấp bách, sôi bụng, có lúc khó đại tiện, có  lúc đại tiện trong phân lẫn nhầy nhớt trắng và đỏ, phiền táo uất ức là viêm đại tràng kèm Can vượng tỳ hư dùng thang  "VĐTCan vượng tỳ hư" cùng với "VIÊM ĐẠI TRÀNG HOÀN" là khỏi.

        Nếu đại tiện lỏng ngày 4-5 lần, kéo dài lâu không khỏi, đói mà không muốn ăn, mỏi mệt yếu sức, vùng lưng ê mỏi, lưỡi đỏ, mạch huyền tế là do, hoặc miệng khô, người gầy, nóng, là do Tỳ thận âm hư dùng bài "VĐT tỳ thận âm hư" cùng viên "VIÊM ĐẠI TRÀNG HOÀN".

VIÊM ĐẠI TRÀNG  120 000 đ/hộp/dùng trong 7 ngày

Thuốc thang VDT các loại             55.000 - 70. 000 đ/ thang

Những bệnh nhân ở xa thuốc được gửi theo đường bưu điện



Mối liên quan giữa viêm đại tràng co thắt và viêm hang vị dạ dày

 Viêm đại tràng co thắt và viêm hang vị dạ dày là 2 bệnh rất thường gặp trong đời sống. Theo thống kê của phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn cho thấy có tới 20%  bệnh nhân đến khám mắc hội chứng VĐT co thắt, trong đó người lớn tuổi chiếm tỷ lệ khá cao, nữ mắc nhiều hơn nam. Các bệnh nhân bị VĐT co thắt có nguyên nhân rất đa dạng: do nhiễm khuẩn đường ruột, chế độ ăn uống, yếu tố tinh thần...Triệu chứng điển hình nhất của các bệnh nhân này là: đau bụng, buồn đi ngoài, đại tiện không thoải mái, đi xong vẫn muốn đi tiếp, phân lúc táo lúc lỏng, thành bụng có khi sờ thấy quai ruội nổi, kèm theo có thể đầy bụng, chướng bụng, ợ hơi. Cơn đau xuất hiện nhiều hơn sau khi ăn thức ăn lạ, chua cay, lạnh, khi căng thẳng thằn kinh, cơn đau thường giảm sau khi đi đại tiện. Bệnh thường kéo dài nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm cho nên người bệnh thường gầy yếu, xanh xao, thậm chí bị suy kiệt do thiếu chất dinh dưỡng, do thiếu nước và chất điện giải, làm bệnh nhân buồn phiền lo lắng về bệnh tật. Như một vòng xoắn bệnh lý, bệnh lại càng nặng hơn. Việc điều trị bằng thuốc tây y cũng chỉ là giải quyết các triệu chứng.

Theo YHCT thì viêm đại tràng co thắt là do can khí không thông suốt hoặc thấp tà cản trở dẫn đến đường tiêu hoá cũng bị bế tắc, khi đường tiêu hoá bị bế tắc thì trọc khí không giáng xuống được mà trào ngược lên, chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng đến các bộ phận tiêu hoá phía trên nó. Trên cơ sở lý luận như vậy, phòng khám đông y Nguyễn hữu Toàn đã cho các bệnh nhân đang khám và điều trị bệnh VĐT co thắt đi nội soi dạ dầy, tá tràng kết quả là trên 80% bệnh nhân có hội chứng trào ngược và bị viêm hang vị dạ dầy mà bệnh nhân không hề hay biết. Viêm hang vị dạ dày có khi phát triển âm thầm mà không có triệu chứng gì, hoặc các triệu chứng nghèo nàn làm bệnh nhân dễ bỏ qua, chỉ được phát hiện khi bệnh đã gây các biến chứng như xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày tá tràng, ung thư hóa… Việc điều trị  viêm hang vị dạ dày thường ít mang lại hiệu quả vì 60 – 80% trường hợp tái phát trong vòng 2-5 năm. Cho nên việc phát hiện sớm là một điều rất có ý nghĩa.

Với lý luận và thực tế lâm sàng như vậy có thể thấy một sự liên quan giữa bệnh VĐT co thắt và bệnh viêm hang vị. Bệnh viêm hang vị dạ dày dễ xảy ra ở những người bị VĐT co thắt và ngược lại. Vì thế việc điều trị cần phải chú ý đến vấn đề đó để điều trị bệnh dứt điểm và toàn diện. Bệnh cũng cần được phân biệt với các bệnh lý khác ở đại tràng như bệnh viêm đại tràng mãn, cũng có các triệu chứng giống như viêm đại tràng co thắt nhưng là bệnh có tổn thương thực thể tại đại tràng, được chẩn đoán xác định nhờ các xét ngiệm cận lâm sàng.

Việc điều trị, đối với những bệnh hay tái phát, dễ trở thành mãn tính như bệnh VĐT co thắt, VĐT mãn, hội chứng ruột kích thích thì YHHĐ cũng chỉ giải quyết tốt các đợt cấp của bệnh. Vì thế VĐT co thắt vẫn là mối lo lắng bệnh không thể chữa khỏi của hầu hết bệnh nhân.

Phòng khám Đông Y Nguyễn Hữu Toàn bằng phương thuốc “Thông tràng kiện vị phương ” qua thực tiễn lâm sàng từ năm 2002 đến nay điều trị cho hơn 1230 bệnh nhân viêm đại tràng co thắt và viêm hang vị dạ dày (trong đó có khoảng 80% bệnh nhân bị bệnh kết hợp), thấy kết quả điều trị là: khỏi 55%, đỡ 35%, đỡ ít 5% không đỡ 5%. Có thể thấy, với kết quả điều trị còn hạn chế của YHHĐ đối với bệnh VĐT co thắt thì việc lựa chọn phương pháp triều trị YHCT đang ngày càng chiếm ưu thế. Thuốc an toàn, chữa vào gốc của bệnh nên không chỉ có tác dụng làm giảm, làm hết các triệu chứng đi ngoài, rối loạn tiêu hóa mà còn điều trị triệt để giúp bệnh khỏi hoàn toàn hoặc hạn chế số lần bệnh tái phát, điều mà thuốc tân dược bó tay, mở ra một hi vọng mới trong việc giải quyết căn bệnh này. Để biết thêm thông tin về việc điều trị bệnh này cũng như được tư vấn về các bệnh khác bạn có thể tham khảo tại trang web của phòng khám www.thaythuoccuaban.com .

 Tham khảo thêm về bệnh viêm đại tràng, các bài thuốc, vị thuốc chữa bệnh viêm đại tràng

Điều trị viêm đại tràng

Thủ phạm gây viêm đại tràng mạn

Chế độ ăn cho bệnh viêm đại tràng mạn tính

Thủ phạm gây viêm đại tràng co thắt

Thuốc Đông y trị viêm đại tràng

Trà dược phòng, chống viêm đại tràng

     Đông y trị viêm đại tràng

Vị thuốc trị viêm đại tràng

Chế độ ăn chữa bệnh viêm đại tràng

Kinh nghiệm chữa viêm đại tràng

Hỏi đáp bệnh viêm đại tràng

Ăn uống với người viêm đại tràng


Các vị thuốc chữa bệnh viêm đại tràng

Mật gấu, Tác dụng của Mật gấu chữa trị bệnh viêm đại tràng ...
   

Tăng cường tiêu hoá chữa được các bệnh đau dạ dầy, viêm đại tràng mãn, kiết lỵ lâu ngày không khỏi. Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc 5. ...
Đông y chữa bệnh

*****************************************

Cải bắp, Tác dụng của Cải bắp trị bệnh viêm đại tràng...   

... ruột tá (tá tràng) viêm dạ dày ruột, đau đường ruột, viêm đại tràng. Vitamin U bị huỷ ở nhiệt độ cao, nên người ta phải dùng nước ép Cải bắp tươi. ...

Đông y chữa bệnh

*****************************************

Vối - Cleistocalyx operculatus, Tác dụng của Vối -  trị bệnh viêm đại tràng ...
     

Thường dùng lá, vỏ, thân, hoa làm thuốc chữa đầy bụng, khó tiêu, ỉa chảy, mụn nhọt, viêm đại tràng mạn tính, lỵ trực trùng. ...
Đông y chữa bệnh


 *****************************************
Quế chi gia thược dược đại hoàng thang,bài thuốc  chữa bệnh viêm đại tràng...
   

Theo Chẩn liệu y điển: Dùng cho những người bụng cǎng muốn đi ngoài nhưng khó đi, những người viêm trực tràng, hẹp trực tràng, viêm đại tràng, bí đại tiện ...
Đông y chữa bệnh

 *****************************************
Các huyệt vị chữa  bệnh viêm đại tràng
Huyệt Quang môn, vị trí huyệt Quang môn chữa trị bệnh đại tràng ...
ổ bụng là đại tràng ngang. Thần kinh vận động cơ là 6 dây thần kinh gian sườn dưới và dây thần kinh bụng-sinh dục. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn ...
 *****************************************

Huyệt Thạch quan, vị trí huyệt Thạch quan trị bệnh đại tràng ...

Dưới da là cân cơ chéo to của bụng, bờ trong cơ thẳng to, mạc ngang, phúc mạc, đại tràng ngang. Thần kinh vận động cơ là 6 nhánh thần kinh gian sườn dưới và ...

*****************************************
 Huyệt Ngũ khu, vị trí huyệt Ngũ khu, tác dụng huyệt Ngũ khu chữa bệnh đại tràng

Dưới da là cơ chéo to của bụng, cơ chéo bé của bụng, cơ ngang bụng, mach ngang, phúc mạc, đại tràng. Thần kinh vận động ...

VIÊM ĐẠI TRÀNG MÃN

www.medinet.hochiminhcity.gov.vn - VIÊM ĐẠI TRÀNG MÃN
TS.BS. Đỗ Trọng Hải
Định nghĩa
Viêm đại tràng mãn là bệnh mãn tính ở đại tràng có thể do rất nhiều nguyên nhân khác nhau hoặc không rõ nguyên nhân.
1. Nhóm do nhiễm:
·      Nhiễm khuẩn: lao, lậu, Clostridium sp.
·      Nhiễm kí sinh trùng: lỵ amip, Giardia lamblia.
·      Nhiễm siêu vi: Cytomegalovirus. Herpes simplex…
·      Nhiễm nấm: Candida.
2. Nhóm không do nhiễm:
·      Viêm loét đại tràng vô căn.
·      Bệnh Crohn.
·      Do xạ trị vùng chậu.
·      Do thiếu máu.
Bệnh viêm đại tràng có đặc điểm là gây ra hiện tượng viêm, loét và rối loạn chức năng của đại tràng.
Cần phân biệt với bệnh đại tràng chức năng (hội chứng ruột kích thích, viêm đại tràng co thắt…) là những bệnh gây chỉ rối loạn chức năng đại tràng nhưng không có tổn thương thực thể ở đại tràng.
Trong phạm vi bài này chúng tôi chỉ đề cập đến một số nguyên nhân thường gặp của viêm đại tràng mãn và không đề cập đến những nguyên nhân gây viêm ruột non và đại tràng cấp tính.
Viêm loét đại tràng do Amip (Lỵ AMIP)
Bệnh lây truyền theo đường tiêu hóa. Kén amip đã trưởng thành theo thức ăn vào dạ dày, qua ruột non rồi từ đoạn cuối hỗng tràng đi vào đại tràng. Amip gây ra những tổn thương viêm loét ở manh tràng, đại tràng và trực tràng.
Biểu hiện lâm sàng bệnh nhân có những triệu chứng đi tiêu phân nhầy lẫn máu kèm cảm giác mót rặn và đau bụng quặn từng cơn. Bệnh thường kéo dài và hay tái phát. Chẩn đoán dựa vào việc khảo sát phân để tìm amip hoặc làm xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán amip. Chụp đối quang kép hoặc nội soi đại tràng sinh thiết có thể thấy được những hình ảnh tổn thương loét đặc hiệu ở đại tràng giúp cho chẩn đoán.
Việc điều trị tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh:
·      Mức độ nhẹ dùng Metronidazole 750 mg x 3 lần/ngày x 5-10 ngày.
·      Mức độ trung bình dùng liều như trên và tiếp theo ladoquinole (Direxiode 3 viên/ngày x 7 ngày để ngừa tái phát.
·      Mức độ nặng dùng Emetine hay Dihydro-emetine 40 mg/ngày, tiêm bắp, tối đa 5 ngày. Vì hai loại thuốc này có thể gây tụt huyết áp nên bệnh nhân cần nhập viện để điều trị và theo dõi điện tim. Thuốc uống Metronidazole được sử dụng một tuần tiếp theo.
Viêm đại tràng do lao (lao ruột)
Thường thứ phát sau lao phổi (50% bệnh nhân lao ruột có hình ảnh lao khi chụp X.quang phổi). Cũng có thể gặp lao ruột nguyên phát do bệnh nhân bị nhiễm vi khuẩn lao qua đường ăn uống. Bệnh diễn tiến mãn tính với những triệu chứng nhiễm lao (sốt nhẹ về chiều, mệt mỏi biếng ăn, thể trạng suy sụp) và rối loạn tiêu hóa (tiêu chảy kéo dài, phân đàm nhớt hoặc có máu). Bệnh có thể diễn tiến gây tắc ruột hoặc lao màng bụng.
Chẩn đoán dựa vào xét nghiệm tìm vi khuẩn lao trong phân. X quang và nội soi đại tràng sinh thiết cho thấy những hình ảnh tổn thương và tìm tế bào điển hình của lao.
Việc điều trị lao ruột cũng phải theo phác đồ điều trị lao chung với các thuốc đặc hiệu như:
·      . Isoiazid 300mg/ngày.
·      . Rifampin 600mg/ngày
·      . Pyrazinamide 2g/ngày.
·      . Ethambutol 800 mg/ngày.
Cần sử dụng đủ thuốc, đúng liều và đúng phác đồ, để tránh hiện tượng kháng thuốc. Khi có biến chứng tắc ruột cần phải phẫu thuật cấp cứu.
Viêm đại tràng màng giả
Tác nhân gây bệnh do vi khuẩn C.difficile, là loại vi khuẩn thường trú ở ruột bình thường không gây bệnh nhưng do sử dụng kháng sinh dài ngày gây loạn khuẩn ruột. Bệnh diễn tiến mãn tính gây những tổn thương màng giả ở đại tràng, làm bệnh nhân tiêu chảy nước hoặc có lẫn máu, kèm theo sốt và triệu chứng nhiễm độc do độc tố vi khuẩn. Chẩn đoán dựa vào cấy phân tìm vi khuẩn, nội soi đại tràng kèm sinh thiết.
Để điều trị, trước hết cần ngưng sử dụng những kháng sinh không cần thiết, dùng Vancomycine 125mg x 4 lần/ngày hay Metronidazole (Flagy) 250 mg x 4 lần/ngày trong 10 ngày. Có thể dùng kèm Lactcobacillus (Lactcol Fort, Biolactyl…).
Viêm loét đại tràng vô căn
Bệnh không tìm thấy nguyên nhân như vi trùng, ký sinh trùng nấm hay siêu vi ở đại tràng. Nguyên nhân có thể liên quan đến những rối loạn miễn dịch và xảy ra trên những bệnh nhân bị stress nặng. Triệu chứng bao gồm đau quặn bụng từng cơn, cảm giác mắc cầu cấp thiết, phân nhầy máu kèm sốt, sụt cân. Ngoài ra bệnh nhân còn có những triệu chứng đau do viêm các khớp hoặc viêm đốt sóng. Bệnh có thể diễn tiến thủng ruột hoặc phình đại tràng và ung thư hóa. Nguy cơ ung thư dường như sẽ xảy ra 10 năm sau khi phát hiện và tỉ lệ tăng lên sau mỗi năm. Tỉ lệ ung thư hóa:
·      Sau 10 năm là 0,5 – 1%
·      Sau 15 năm là 23%
·      Sau 24 năm là 42%
Chẩn đoán chủ yếu dựa vào nội soi đại tràng và sinh thiết.
Về điều trị, cần cho bệnh nhân ăn thức ăn dễ tiêu, tránh sữa, dùng các thuốc chống tiêu chảy (Diarsed, Imodium 2-4 lần/ngày), Sulfasalazine 1.5g 2-4 lần/ngày. Corticoid có thể sử dụng qua đường hậu môn (thụt tháo với Hydrocortisone hoặc thuốc đặt hậu môn), qua đường uống (Prednisone 30mg/ngày), qua đường tĩnh mạch trong trường hợp nặng. Đôi khi cần phải dùng thêm thuốc ức chế miễn dịch (Azathioprine).
Khi xảy ra biến chứng xuất huyết ồ ạt, nhiễm độc hoặc thủng đại tràng cần phải mổ cấp cứu. Chỉ định cắt toàn bộ đại tràng khi sinh thiết đại tràng thấy có tình trạng loạn sản hoặc không đáp ứng điều trị.
Bệnh Crohn.
Là một bệnh không rõ nguyên nhân, rất thường gặp ở Âu Mỹ nhưng hiếm ở nước ta. Bệnh xảy ra ở cả ruột non và đại tràng, diễn biến mãn tính với các triệu chứng tiêu chảy, đau bụng, sốt, đau hố chậu phải, dễ chẩn đoán lầm với viêm ruột thừa. Bệnh gây ra những thương tổn co thắt, phù nề và xơ hóa gây hẹp lòng ruột dẫn đến tắc ruột, rò ruột, áp xe và rò cạnh hậu môn. Việc điều trị tương tự như viêm loét đại tràng.
Một số trường hợp đặc biệt
Viêm đại tràng trên bệnh nhân bị AIDS:
Nguyên nhân do siêu vi trùng Cytomegalovirus. Bệnh gây ra những thương tổn gồm nhiều ổ loét nhỏ ở đại tràng, nhất là đại tràng phải.
Viêm trực tràng do Chlamydia, do lậu.
Bệnh xảy ra ở những người đồng tính luyến ái nam, thương tổn gây viêm loét trực tràng dẫn đến xơ hóa chít hẹp trực tràng hoặc gây rò cạnh hậu môn.
Viêm hậu môn - trực tràng do Herpes simplex rirus:
Bệnh xảy ra trên những người đồng tính luyến ái nam gây nhưng thương tổn phù nề, sưng đỏ, loét hoặc nổi mụn rộp ở vùng hậu môn trực tràng.
Viêm đại tràng sau xạ trị vùng bụng và chậu:
Thường gặp trên bệnh nhân ung thư cổ tử cung được xạ trị, tổn thương viêm đỏ phù nề, loét tương tự như viêm loét đại tràng. Niêm mạc đại tràng bị xơ hóa kèm tăng sinh mạch máu, rất dễ chảy máu khi đụng vào.
Việc chẩn đoán và điều trị viêm đại tràng do những nguyên nhân trên thường rất khó khăn và phức tạp.
Kết luận:
1.      Viêm đại tràng mãn là một bệnh thường gặp, chẩn đoán nguyên nhân thường khó, điều trị kéo dài vì bệnh hay tái phát.
2.      Để phòng bệnh cần chú ý vệ sinh thực phẩm, ăn uống, không uống sữa bò tươi chưa tiệt trùng, tránh dùng kháng sinh kéo dài, điều trị tích cực khi bị lao phổi.
3.      Khi có rối loạn đi cầu, phân đàm máu cần khám chuyên khoa tiêu hóa để xác định chẩn đoán, cần loại trừ bệnh ung thư đại tràng.

Có thể bạn chưa biết
Sự nguy hiểm của căn bệnh viêm đại tràng mạn tính
QĐND - Saturday, August 28, 2010, 21:37 (GMT+7)
QĐND - Viêm đại tràng mạn tính là bệnh thường gặp, gây tổn thương niêm mạc đại tràng, khu trú một vùng hoặc lan tỏa khắp đại tràng. Bệnh dễ tái phát, dai dẳng và khó điều trị khỏi hoàn hoàn. Tuy nhiên, nếu không điều trị tốt, người bệnh sẽ bị gầy yếu, ăn kém, có thể dẫn tới suy kiệt và tử vong.
Viêm đại tràng mạn tính thường là sự phối hợp của nhiều cơ chế, do vậy chỉ điều trị ổn định chứ chưa điều trị khỏi được hoàn toàn. Tổn thương loét: Bệnh viêm đại tràng mạn tính thấy hình ảnh viêm thường kèm theo với các ổ loét có thể chỉ là vết xước hoặc trợt niêm mạc, có ổ loét thực sự sâu, bờ đều mềm mại, ở đáy có nhầy, mủ, máu...
Để điều trị và phòng bệnh, chúng ta cần chú ý đến chế độ ăn, uống: Ăn các chất dễ tiêu giàu năng lượng, giảm các chất kích thích, không ăn thức ăn ôi thiu, các chất có nhiều xơ. Làm việc nghỉ ngơi hợp lý, nghỉ hẳn khi có đợt tái phát. Nếu nhiễm khuẩn cần cho kháng sinh... Nếu viêm đại tràng do bệnh "tự miễn" thì dùng liệu pháp corticoid. Điều trị triệu chứng chủ yếu chống tiêu chảy, chống táo bón, giảm đau chống co thắt, thuốc an thần, tăng sức bền cho niêm mạc: Vi-ta-min B1,  vi-ta-min C, xoa bóp hằng ngày trước khi ngủ hoặc sáng ngủ dậy nên xoa nắn dọc khung đại tràng, từ hố chậu phải sang trái, động tác nhẹ nhàng vừa xoa vừa day nhẹ.
Phòng bệnh, cần điều trị triệt để các bệnh nhiễm khuẩn đường ruột cấp, thương hàn, lỵ trực khuẩn, lỵ amip và các nhiễm khuẩn khác. Thực hiện ăn chín uống sôi, không ăn tiết canh, gỏi tôm cá, thịt tái, không ăn rau sống, mắm tôm sống...  
Bác sĩ Minh Nguyệt

Phát hiện sớm ung thư đại tràng

Dược phẩm Đông Á - dap.vn - Chữa Đại tràng
Đây là loại ung thư hay gặp nhất ở nam giới, sau ung thư phổi. Nhiều nhà khoa học cho rằng đây là bệnh của sự no đủ, do ăn quá nhiều thịt và chất béo. Các thống kê cho thấy tỷ lệ ung thư đại tràng ở châu Á đang tăng nhanh cùng với sự tăng cao mức sống.

Tiên lượng của ung thư đại tràng phụ thuộc vào việc phát hiện được bệnh sớm hay muộn. Nếu phẫu thuật sớm khi bệnh chưa di căn sang cơ quan khác trong cơ thể, kết quả sẽ khả quan.

Thông thường khối u xuất phát từ thành của lòng ruột; từ từ phát triển, sau khoảng vài năm sẽ thành ung thư. Lúc đó, khối u thường lớn hơn 2 cm. Thông thường, ung thư phát triển qua tình trạng bướu ruột (polyp). Bệnh cũng có yếu tố di truyền. Nếu bố mẹ, anh chị em ruột bị ung thư đại tràng thì con cái, anh chị em ruột cũng có khả năng mắc.

Có những người bỗng nhiên thấy trên niêm mạc đại tràng của mình xuất hiện nhiều bướu kiểu polyp. Polyp có thể có cuống hoặc không, phát triển nhanh, chiếm phần lớn niêm mạc đại tràng. Điển hình là căn bệnh có tên bệnh polyp có tính chất gia đình, được gọi là polyp gia đình; phần lớn bệnh nhân sẽ chết vì ung thư đại tràng ở tuổi 35-40 nếu không được phát hiện sớm và chữa trị kịp thời khi polyp chưa thành ung thư.

Ngoài ra, người bị viêm đường ruột như bệnh “Crohn’s”, viêm đại tràng có loét... cũng dễ bị ung thư đại tràng. Những người bị ung thư vú, tử cung cũng dễ bị ung thư đại tràng hơn và ngược lại.

Ở giai đoạn sớm, triệu chứng bệnh thường không rõ, người bệnh bị đau bụng nhẹ, cũng có khi bị trướng hoặc đầy, đau tức bụng trước hoặc sau khi ăn. Triệu chứng thường gặp và có giá trị chẩn đoán là đi ngoài ra máu, nhất là những người ở tuổi 40-50. Tuổi này thường bị rối loạn đại tiện, có ngày bị táo bón, có ngày lại bị đi lỏng kiểu tiêu chảy. Nên nhớ là chảy máu của ung thư đại tràng rất ít và “kín đáo”; nhưng nếu kéo dài, người bệnh sẽ bị thiếu máu, cảm thấy mệt mỏi, khó thở.

Làm thế nào để phát hiện bệnh sớm? Theo khuyến cáo mới của Hội ung thư Mỹ, cả nam lẫn nữ nên đi khám bệnh tổng hợp hằng năm từ tuổi 50. Muốn phát hiện sớm ung thư, cần thử phân xem có chảy máu kín đáo không. Đây là triệu chứng sớm giúp chẩn đoán bệnh.

Nếu trong gia đình có người thân như cha mẹ, anh chị em ruột bị ung thư đại tràng hoặc bản thân mình cũng bị ung thư vú, ung thư tử cung, nên xin được khám xét về ung thư đại tràng. Đơn giản thì làm nội soi trực tràng, đại tràng chậu hông, khi cần mới làm nội soi cả đại tràng.

Về điều trị, phẫu thuật là phương pháp cơ bản. Trên thực tế, chưa có loại thuốc nào kể cả Tây y và Đông y được công nhận là có tác dụng với bệnh này. Tỷ lệ sống được 5 năm sau mổ là 90% nếu ung thư còn trong lòng ruột, 50% nếu ung thư đă ăn qua thành ruột, chưa ăn vào hạch, còn 30% khi u đã ăn vào hạch và 10% nếu đã di căn vào tạng.

Những trường hợp sau không nên mổ: tuổi đời quá cao, hơn 80-90 tuổi; sức khỏe suy sụp, quá yếu; có những bệnh lý tim, phổi hoặc gan; ung thư đã di căn tới một số cơ quan khác, có di căn hoặc cổ trướng.

Sau mổ, bệnh nhân phải dùng thuốc từ 6 tháng đến 1 năm.
Cập nhật lần cuối:  23/03/2012 11:48:35 AM

"Tẩy gan" bằng muối Epsom - một khái niệm đáng ngờ

Chủ Nhật, 25/03/2012, 17:00 (GMT+7)

TTO - Tôi năm nay 45 tuổi, mắc bệnh sỏi đường mật trong gan phải đã 10 năm nay và không mổ được. Nay tôi có vừa đọc một bài báo trên mạng là tẩy sỏi gan mật bằng bưởi, dầu ô liu và thuốc muối epsom. Vậy loại thuốc này có hiệu quả không và mua ở đâu? (Bạn đọc)
- Trả lời
Muối EPSOM là tên gọi khác của muối vô cơ là magie sulfat (magnesium sulphate, công thức MgSO4.7H2O). Đây là thuốc lâu đời dùng uống trị táo bón do có tác dụng gây nhuận tẩy theo cơ chế thẩm thấu (tức giữ nước lại tại lòng ruột giúp nước thấm vào phân làm dễ đi tiêu), nhưng nay gần như rất ít dùng vì có nhiều thuốc trị táo bón tốt hơn.
Phương pháp uống ba thứ nước bưởi + muối epsom + dầu ô liu đã và đang đồn đại sử dụng ở nước ngoài (đặc biệt lan truyền trên mạng) bạn đề cập trong thư thực chất có thể giúp trị táo bón. Còn cho rằng giúp “tẩy gan”, cũng theo lời đồn đại, thì không rõ cơ chế như thế nào (chữ “tẩy gan” không có trong tây y).
Nếu hiểu “tẩy gan” là hỗ trợ chức năng gan mật, giúp nhuận trường thì ở nước ta có nhiều dược thảo, thuốc giúp rất tốt cho tác dụng này, không cần phải dùng đến phương pháp kết hợp như trên.
Nếu chế phẩm kết hợp vừa kể không rõ có tác dụng “tẩy gan” hay không thì không thể cho rằng thứ đó có tác dụng trị sỏi mật. Vì tới nay chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng thực trị liệu này.
Nhân đây, xin có ý kiến về các bài thuốc, vị thuốc hoặc phương thức trị liệu phát tán trên mạng như sau.
Trong thời gian qua thường lưu hành phát tán tài liệu, tờ rơi theo kiểu “tài liệu đáng ngờ” đề cập một số phương thuốc (xem kỹ thấy cách dùng nhiều khi rất bất hợp lý) làm người đọc tưởng lầm có tác dụng điều trị bệnh nhưng thực tế không phải như vậy. Nguy hiểm của những tài liệu, tờ rơi kiểu này là làm người bệnh thay vì được khám chữa bệnh theo y học chính thống lại mất thời giờ áp dụng những phương thuốc mà tác dụng không chắc chắn, đưa đến bệnh không chữa khỏi mà ngày càng nặng thêm.
Đối với y học chính thống hiện nay, khi người bệnh được cho dùng một chất nào đó không phải là thuốc nhưng nếu có sự tin tưởng tuyệt đối đó là thuốc thật, dùng chất đó và khỏi bệnh gọi là “hiệu ứng placebo”.
“Placebo” có nghĩa là “tôi làm vui lòng”, ý nói bác sĩ khám chữa bệnh sẽ tác động đến yếu tố tâm lý của người bệnh, tạo cho họ sự phấn khởi, tin tưởng để mau hết bệnh. Trong quá trình điều trị bệnh, bác sĩ điều trị có thể cho một thứ thuốc để thai thác hiệu năng placebo. Thí dụ, bệnh nhân bị rối loạn không cần dùng đến thuốc nhưng lại có tâm lý không thể cưỡng là phải được dùng thuốc, bác sĩ có thể cho dùng vitamin để khai thác tác dụng tích cực của yếu tố tâm lý. Và thuốc trong trường hợp này là chất không có tác dụng chữa bệnh thật sự, được gọi là placebo (ở ta, thường được dịch là “giả dược” hoặc “thuốc vờ”).
Người bệnh dùng placebo do tin tưởng đó là thuốc chữa bệnh thật và có thể khỏi bệnh. Trong chừng mực nào đó, có thể ghi nhận hiệu ứng placebo để giải thích những vụ việc liên quan việc chữa bệnh “kỳ lạ” mà nhiều người cho rằng khoa học khó có thể giải thích được. Đó là việc dùng nước lạnh, bùa chú hay bất cứ thứ nào không phải là thuốc, nói chung là dùng những phương tiện, phương cách không theo y học chính thống nhưng có sự tin tưởng vào tác dụng vẫn có thể chữa được bệnh.
Đối với các phương thuốc của các “tài liệu đáng ngờ” nếu dùng mà có thể trị hết bệnh là hoàn toàn do yếu tố tâm lý, quá tin nên có thế khỏi và số người được khỏi thường rất ít.
Cũng xin nói thêm, một tác dụng của vị thuốc, bài thuốc hay phương thức trị liệu nào đó gọi là chữa trị theo kinh nghiệm dân gian hay dùng theo lối truyền miệng nếu không trải qua một nghiên cứu khoa học đúng quy cách chứng thực thì tác dụng ấy không thể gọi là chắc chắn, thậm chí có khi không có tác dụng.
Nền y học được thế giới công nhận hiện nay được gọi là y học thực chứng (evidence-based medicine) tức là tác dụng hiệu quả của một thuốc hay một phương thức trị liệu nào đó phải dựa vào chứng cứ là kết quả thử nghiệm lâm sàng khoa học đúng quy cách chứ không dựa vào sự đồn đại, truyền miệng.
PGS.TS NGUYỄN HỮU ĐỨC
(Đại học Y dược TP.HCM)