Thông tư 30 của Bộ Y tế về vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn chưa đi vào cuộc sống

Thông tư 30 của Bộ Y tế liệu có khả thi?

Người dân chọn thức ăn hè phố vì... tiện lợi (Ảnh: KT)
(VOV) -Không phải những người kinh doanh đường phố, vỉa hè nào cũng thực hiện được những điều kiện như trong Thông tư.

Ngày 20/1, Thông tư 30 của Bộ Y tế quy định điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố sẽ có hiệu lực. Đây được coi là hành lang pháp lý cơ bản để quản lý hiệu quả hơn các cơ sở kinh doanh ăn uống đường phố, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Tuy nhiên, nhiều người đang băn khoăn về tính khả thi của Thông tư khi đi vào cuộc sống.
Hiện nay thành phố Hà Nội có khoảng 47.000 cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm, trong đó loại hình dịch vụ ăn uống đường phố chiếm tới hơn 26.000 cơ sở. Ăn uống ở các quán ăn vỉa hè được nhiều người lựa chọn vì sự tiện lợi và giá cả phù hợp với nhu cầu của đại đa số người tiêu dùng.
Chính vì thế, các quán ăn vỉa hè mọc lên ngày càng nhiều, tuy nhiên vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm thì lại chưa đảm bảo khiến số người bị ngộ độc thức ăn ngày càng gia tăng. Do vậy, Thông tư 30 của Bộ Y tế ra đời nhận được sự đồng thuận rất cao từ phía người tiêu dùng.
Ông Nguyễn Khánh Đức, ở phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, công nhân xây dựng, cho biết: “Chúng tôi là những người dân lao động. Khi được tham khảo Thông tư 30 của Bộ Y tế, chúng tôi rất đồng tình vì qua đó, mọi điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với mọi hàng quán ăn vỉa hè sẽ được đảm bảo tốt hơn cho những người tiêu dùng như chúng tôi. Nhưng nếu muốn Thông tư có hiệu quả thì Bộ Y tế cần tuyên truyền rộng rãi để những người kinh doanh hàng ăn đường phố hiểu rõ và phải có thời gian để họ thay đổi và làm theo”.   
Đối với những người kinh doanh đường phố, vỉa hè, Thông tư 30 ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của họ, vì không phải hộ dân nào cũng thực hiện được những điều kiện trong Thông tư. Chẳng hạn như: quy định kinh doanh thức ăn đường phố phải có khoang chứa đựng, bảo quản thức ăn, đồ uống đảm bảo vệ sinh; phải chống được bụi bẩn, mưa, nắng, ruồi nhặng và côn trùng gây hại; có đủ trang thiết bị, dụng cụ để chế biến, bảo quản, bày bán riêng biệt thực phẩm sống và thức ăn chín; hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ thực phẩm…
Không chỉ người dân mà ngay cả lực lượng thực thi Thông tư 30 là chính quyền các phường, xã hiện cũng đang thấy khó khăn và bất cập khi triển khai. Ông Phạm Chi Linh, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm cho biết, đến thời điểm này, các lực lượng chức năng của phường chưa được tập huấn hay phổ biến về nội dung thanh tra, kiểm tra theo Thông tư 30, cũng chưa biết các chế tài xử phạt đối với các cơ sở vi phạm sẽ như thế nào. Theo ông, chỉ còn ít ngày nữa Thông tư 30 có hiệu lực, việc triển khai sẽ rất khó khăn.
Những quy định trong Thông tư 30 của Bộ Y tế là cụ thể hóa những nội dung quy định tại Luật An toàn thực phẩm. Đây là những quy định cần thiết để quản lý hiệu quả hơn các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, việc thực thi cần phải có lộ trình cụ thể theo từng giai đoạn; phải có biện pháp quản lý thực phẩm ngay từ khâu sản xuất và nhập khẩu hàng hoá./.
 _____



BỘ Y TẾ

Số:   30  /2012/TT - BYT
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày  05  tháng  12  năm 2012
THÔNG TƯ
Quy định về điều kiện an toàn thực phẩm

đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố

Căn cứ Luật an toàn thực phẩm năm 2010;
Căn cứ Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật an toàn thực phẩm;
Căn cứ Nghị định số 63/2012/NĐ-CP ngày 31 tháng 08 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục An toàn  thực phẩm;
Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư quy định điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố.

Chương I
 QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Thông tư này quy định điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố (sau đây gọi tắt là cơ sở).
2. Thông tư này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố trên lãnh thổ Việt Nam.

Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Thông tư này các thuật ngữ được hiểu như sau:
1. Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống là cơ sở tổ chức chế biến, cung cấp thức ăn, đồ uống để ăn ngay có địa điểm cố định bao gồm cơ sở chế biến suất ăn sẵn; căng tin kinh doanh ăn uống; bếp ăn tập thể; bếp ăn, nhà hàng ăn uống của khách sạn, khu nghỉ dưỡng; nhà hàng ăn uống; cửa hàng ăn uống; cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chín.
2. Kinh doanh thức ăn đường phố là loại hình kinh doanh thực phẩm, thức ăn, đồ uống để ăn ngay, uống ngay được bán rong trên đường phố hay bày bán tại những địa điểm công cộng (bến xe, bến tầu, nhà ga, khu du lịch, khu lễ hội) hoặc ở những nơi tương tự.

Chương II
 ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM AN TOÀN THỰC PHẨM
ĐỐI VỚI CƠ SỞ KINH DOANH DỊCH VỤ ĂN UỐNG

Điều 3. Đối với cơ sở chế biến suất ăn sẵn
1. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ và người trực tiếp chế biến suất ăn sẵn tuân thủ theo các yêu cầu quy định tại Điều 1, 2, 3 và Điều 4 Thông tư số 15/2012/TT-BYT ngày 12 tháng 09 năm 2012 của Bộ Y tế quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
2. Số lượng suất ăn của cơ sở chế biến suất ăn sẵn trong thực tế phải phù hợp với công năng thiết kế dây chuyền chế biến suất ăn sẵn của cơ sở.
3. Nguyên liệu thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thực phẩm bao gói sẵn phải có hợp đồng về nguồn cung cấp theo quy định và còn hạn sử dụng; phụ gia thực phẩm trong danh mục phụ gia thực phẩm được phép sử dụng do Bộ Y tế ban hành.
4. Nước đá sử dụng trong ăn uống phải được sản xuất từ nguồn nước phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về chất lượng nước ăn uống số 01:2009/BYT.
5. Có đầy đủ sổ sách ghi chép việc thực hiện chế độ kiểm thực 3 bước theo hướng dẫn của Bộ Y tế; có đủ dụng cụ lưu mẫu thức ăn, tủ bảo quản mẫu thức ăn lưu và bảo đảm chế độ lưu mẫu thực phẩm tại cơ sở ít nhất là 24 giờ kể từ khi suất ăn sẵn được chế biến xong.
6. Bảo đảm an toàn thực phẩm trong vận chuyển suất ăn sẵn, thực phẩm ăn ngay:
          a) Thiết bị chứa đựng suất ăn sẵn, thực phẩm ăn ngay phải ngăn cách với môi trường xung quanh, tránh sự xâm nhập của bụi, côn trùng và phù hợp với kích thước thực phẩm được vận chuyển;
          b) Thiết bị vận chuyển chuyên dụng, dụng cụ, bao bì chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với suất ăn sẵn, thực phẩm ăn ngay phải được chế tạo bằng vật liệu không làm ô nhiễm thực phẩm và dễ làm sạch; phải bảo đảm vệ sinh sạch sẽ trước, trong và sau khi vận chuyển suất ăn sẵn, thực phẩm ăn ngay;
c) Đủ thiết bị kiểm soát được nhiệt độ, độ ẩm, thông gió và các yếu tố ảnh hưởng tới an toàn thực phẩm theo yêu cầu kỹ thuật để bảo quản đối với suất ăn sẵn, thực phẩm ăn ngay trong suốt quá trình vận chuyển;
d) Phải có nội quy quy định về chế độ bảo đảm an toàn thực phẩm trong vận chuyển suất ăn sẵn, thực phẩm ăn ngay; duy trì và kiểm soát chế độ bảo quản theo yêu cầu trong suốt quá trình vận chuyển;
đ) Trang thiết bị, dụng cụ vận chuyển suất ăn sẵn, thực phẩm ăn ngay không được chứa cùng với hàng hoá độc hại hoặc gây nhiễm chéo ảnh hưởng đến chất lượng, an toàn thực phẩm.
e) Thời gian bảo quản, vận chuyển suất ăn sẵn, thực phẩm ăn ngay từ khi chế biến xong đến khi ăn không quá 4 giờ (nếu thực phẩm không thể bảo quản nóng, lạnh hay đông lạnh); thời gian từ khi vận chuyển suất ăn sẵn đến khi ăn trong trường hợp không có trang thiết bị bảo quản chuyên dụng (ủ nóng, tủ đông lạnh) không quá 2 giờ. Nếu quá thời gian trên phải có biện pháp gia nhiệt, thanh trùng bảo đảm an toàn thực phẩm trước khi sử dụng để ăn uống.

Điều 4. Đối với căng tin kinh doanh ăn uống; bếp ăn tập thể; bếp ăn, nhà hàng ăn uống của khách sạn, khu nghỉ dưỡng; nhà hàng ăn uống
1. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ và người trực tiếp chế biến, phục vụ ăn uống tại căng tin kinh doanh ăn uống, bếp ăn tập thể, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng ăn uống tuân thủ theo các yêu cầu quy định tại Điều 1, 2, 3 và Điều 4 Thông tư số 15/2012/TT-BYT ngày 12 tháng 09 năm 2012 của Bộ Y tế quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
2. Thiết kế có khu sơ chế nguyên liệu thực phẩm, khu chế biến nấu nướng, khu bảo quản thức ăn; khu ăn uống; kho nguyên liệu thực phẩm, kho lưu trữ bảo quản thực phẩm bao gói sẵn riêng biệt; khu vực rửa tay và nhà vệ sinh cách biệt. Đối với bếp ăn tập thể sử dụng dịch vụ cung cấp suất ăn sẵn chuyển đến phải bố trí khu vực riêng và phù hợp với số lượng suất ăn phục vụ để bảo đảm an toàn thực phẩm.
3. Nơi chế biến thức ăn phải được thiết kế theo nguyên tắc một chiều; có đủ dụng cụ chế biến, bảo quản và sử dụng riêng đối với thực phẩm tươi sống và thực phẩm đã qua chế biến; có đủ dụng cụ chia, gắp, chứa đựng thức ăn, dụng cụ ăn uống bảo đảm sạch sẽ, thực hiện chế độ vệ sinh hàng ngày; trang bị găng tay sạch sử dụng một lần khi tiếp xúc trực tiếp với thức ăn; có đủ trang thiết bị phòng chống ruồi, dán, côn trùng và động vật gây bệnh.
4. Khu vực ăn uống phải thoáng mát, có đủ bàn ghế và thường xuyên phải bảo đảm sạch sẽ; có đủ trang thiết bị phòng chống ruồi, dán, côn trùng và động vật gây bệnh; phải có bồn rửa tay, số lượng ít nhất phải có 01 (một) bồn rửa tay cho 50 người ăn; phải có nhà vệ sinh, số lượng ít nhất phải có 01 (một) nhà vệ sinh cho 25 người ăn.
5. Khu trưng bày, bảo quản thức ăn ngay, thực phẩm chín phải bảo đảm vệ sinh; thức ăn ngay, thực phẩm chín phải bày trên bàn hoặc giá cao cách mặt đất ít nhất 60cm; có đủ trang bị và các vật dụng khác để phòng, chống bụi bẩn, ruồi, dán và côn trùng gây bệnh; có đủ dụng cụ bảo đảm vệ sinh để kẹp, gắp, xúc thức ăn.
6. Nước đá sử dụng trong ăn uống phải được sản xuất từ nguồn nước phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về chất lượng nước ăn uống số 01:2009/BYT.
7. Có đủ sổ sách ghi chép thực hiện chế độ kiểm thực 3 bước theo hướng dẫn của Bộ Y tế; có đủ dụng cụ lưu mẫu thức ăn, tủ bảo quản mẫu thức ăn lưu và bảo đảm chế độ lưu mẫu thực phẩm tại cơ sở ít nhất là 24 giờ kể từ khi thức ăn được chế biến xong.
8. Có đủ dụng cụ chứa đựng chất thải, rác thải và bảo đảm phải kín, có nắp đậy; chất thải, rác thải phải được thu dọn, xử lý hàng ngày theo quy định; nước thải được thu gom trong hệ thống kín, bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường.

Điều 5. Đối với cửa hàng ăn uống
1. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ và người trực tiếp chế biến, phục vụ ăn uống tại cửa hàng ăn uống tuân thủ theo các yêu cầu quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 6 và 12  Điều 5, khoản 1, 2 và 3 Điều 6, khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 7, khoản 1, 2, 4, 5, 7 và 8 Điều 4 Thông tư số 15/2012/TT-BYT ngày 12 tháng 09 năm 2012 của Bộ Y tế quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
2. Cơ sở được thiết kế có nơi chế biến thức ăn, nơi bày bán hàng, nơi rửa tay cho khách hàng; nơi chế biến thức ăn, đồ uống; nơi ăn uống sạch sẽ, cách biệt nguồn ô nhiễm; khu vực trưng bày thức ăn phải cách biệt giữa thực phẩm sống và thức ăn chín.
3. Có đủ dụng cụ chế biến, chia, chứa đựng thức ăn và dụng cụ ăn uống bảo đảm vệ sinh; trang bị găng tay sạch sử dụng một lần khi tiếp xúc trực tiếp với thức ăn; vật liệu, bao gói thức ăn phải bảo đảm an toàn thực phẩm.
4. Nước dùng để nấu nướng thức ăn phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 01:2009/BYT; nước sử dụng để sơ chế nguyên liệu thực phẩm, vệ sinh dụng cụ, cho khách hàng rửa tay phải có đủ số lượng và phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 02:2009/BYT và phải được định kỳ kiểm nghiệm ít nhất 1 lần/năm theo quy định; nước đá để pha chế đồ uống phải được sản xuất từ nguồn nước phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 01:2009/BYT.
5. Nguyên liệu thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thực phẩm bao gói sẵn phải có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng; phụ gia thực phẩm trong danh mục phụ gia thực phẩm được phép sử dụng do Bộ Y tế ban hành.
6. Thức ăn ngay, thực phẩm chín phải được trưng bày trên bàn hoặc giá cao cách mặt đất ít nhất 60cm; để trong tủ kính hoặc thiết bị bảo quản, che đậy hợp vệ sinh, chống được ruồi, nhặng, bụi bẩn, mưa, nắng và côn trùng, động vật gây hại.
7. Cơ sở có đủ dụng cụ chứa đựng chất thải, rác thải; dụng cụ chứa đựng chất thải, rác thải phải kín, có nắp đậy và được chuyển đi trong ngày; nước thải được thu gom trong hệ thống không gây ô nhiễm môi trường.

Điều 6. Đối với cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chín
1. Cơ sở bố trí ở địa điểm cách xa các nguồn ô nhiễm.
2. Nơi chế biến, nơi bán thức ăn ngay, thực phẩm chín phải sạch sẽ, thoáng mát, tách biệt nhau để dễ vệ sinh và không gây ô nhiễm cho môi trường xung quanh.
3. Nước sử dụng để chế biến thức ăn ngay, thực phẩm chín phải đủ và phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 01:2009/BYT; nước để sơ chế nguyên liệu, vệ sinh dụng cụ, rửa tay phải đủ và phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 02:2009/BYT; nước đá sử dụng trong pha chế đồ uống phải được sản xuất từ nguồn nước phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 01:2009/BYT.
4. Có đủ dụng cụ chế biến, chia, gắp, chứa đựng, bảo quản thức ăn ngay, thực phẩm chín và phải được rửa sạch, lau khô trước khi sử dụng; trang bị găng tay sử dụng một lần khi tiếp xúc trực tiếp với thức ăn ngay, thực phẩm chín; vật liệu, bao gói thức ăn ngay, thực phẩm chín phải bảo đảm an toàn thực phẩm.
5. Nguyên liệu dùng để chế biến, thức ăn ngay, thực phẩm chín phải có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, bảo đảm an toàn theo quy định; chỉ sử dụng phụ gia thực phẩm trong danh mục phụ gia thực phẩm được phép sử dụng do Bộ Y tế ban hành.
6. Thức ăn ngay, thực phẩm chín phải được để trong tủ kính, thiết bị bảo quản hợp vệ sinh, chống được ruồi nhặng, bụi bẩn, côn trùng, động vật gây hại và phải cao hơn mặt đất ít nhất 60cm.
7. Đối với chủ cơ sở, người trực tiếp kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chín tuân thủ theo các yêu cầu quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 7 Thông tư số 15/2012/TT-BYT ngày 12 tháng 09 năm 2012 của Bộ Y tế quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
8. Cơ sở phải có đủ dụng cụ chứa đựng rác thải và được chuyển đi trong ngày; nước thải được thu gom vào hệ thống cống rãnh công cộng và không được gây ô nhiễm môi trường.

Chương III
 ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM AN TOÀN THỰC PHẨM
ĐỐI VỚI KINH DOANH THỨC ĂN ĐƯỜNG PHỐ

Điều 7. Địa điểm, trang thiết bị, dụng cụ
1. Bố trí kinh doanh ở khu vực công cộng (bến xe, bến tầu, nhà ga, khu du lịch, khu lễ hội, khu triển lãm), hè đường phố; nơi bày bán thực phẩm cách biệt các nguồn ô nhiễm; bảo đảm sạch sẽ, không làm ô nhiễm môi trường xung quanh.
2. Trường hợp kinh doanh trên các phương tiện để bán rong phải thiết kế khoang chứa đựng, bảo quản thức ăn ngay, đồ uống bảo đảm vệ sinh, phải chống được bụi bẩn, mưa, nắng, ruồi nhặng và côn trùng gây hại.
3. Nư­ớc để chế biến đơn giản đối với thức ăn ngay, pha chế đồ uống phải đủ số lượng và phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 01:2009/BYT; nước để sơ chế nguyên liệu, vệ sinh dụng cụ, rửa tay phải đủ và phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 02:2009/BYT; có đủ nước đá để pha chế đồ uống được sản xuất từ nguồn nước phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 01:2009/BYT.
4. Có đủ trang thiết bị, dụng cụ để chế biến, bảo quản, bày bán riêng biệt thực phẩm sống và thức ăn ngay; có đủ dụng cụ ăn uống, bao gói chứa đựng thức ăn bảo đảm vệ sinh; có đủ trang bị che đậy, bảo quản thức ăn trong quá trình vận chuyển, kinh doanh và bảo đảm luôn sạch sẽ; bàn ghế, giá tủ để bày bán thức ăn, đồ uống phải cách mặt đất ít nhất 60 cm.
5. Thức ăn ngay, đồ uống phải để trong tủ kính hoặc thiết bị bảo quản hợp vệ sinh và phải chống được bụi bẩn, mưa, nắng, ruồi nhặng và côn trùng xâm nhập.
6. Người bán hàng phải mang trang phục sạch sẽ và gọn gàng; khi tiếp xúc trực tiếp với thức ăn, đồ uống ăn ngay phải dùng găng tay sử dụng 1 lần.
7. Nguyên liệu thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thực phẩm bao gói, chế biến sẵn bảo đảm có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định.
8. Trang bị đầy đủ, sử dụng thường xuyên thùng rác có nắp, túi đựng để thu gom, chứa đựng rác thải và phải chuyển đến địa điểm thu gom rác thải công cộng trong ngày; nước thải phải được thu gom và bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường nơi kinh doanh.

Điều 8. Đối với người kinh doanh thức ăn đường phố
1. Ng­ười kinh doanh thức ăn đường phố phải tập huấn và được cấp Giấy xác nhận tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm theo quy định.
2. Người kinh doanh thức ăn đường phố phải được khám sức khoẻ và cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện sức khoẻ theo quy định. Việc khám sức khoẻ và cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện sức khoẻ do các cơ quan y tế từ cấp quận, huyện và tương đương trở lên thực hiện.
3. Người đang mắc các bệnh hoặc chứng bệnh thuộc danh mục các bệnh hoặc chứng bệnh truyền nhiễm mà người lao động không được phép tiếp xúc trực tiếp trong quá trình sản xuất, chế biến thực phẩm đã được Bộ Y tế quy định thì không được tham gia kinh doanh thức ăn đường phố.

Chương IV
KIỂM TRA CƠ SỞ KINH DOANH DỊCH VỤ ĂN UỐNG
VÀ KINH DOANH THỨC ĂN ĐƯỜNG PHỐ

Điều 9. Kiểm tra định kỳ
Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống và kinh doanh thức ăn đường phố trên địa bàn quản lý. Tần xuất kiểm tra:
1. Không quá 02 (hai) lần/năm đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống do đơn vị chức năng được Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương ủy quyền cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm.
2. Không quá 03 (ba) lần/năm đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống do đơn vị chức năng được Ủy ban nhân dân huyện/quận ủy quyền cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm.
3. Không quá 04 (bốn) lần/năm đối với đối tượng kinh doanh thức ăn đường phố do Uỷ ban nhân dân cấp xã/phường quản lý hoặc cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm. 
Điều 10. Kiểm tra đột xuất
Cơ quan nhà nước tiến hành kiểm tra đột xuất nếu xảy ra vi phạm về an toàn thực phẩm, sự cố an toàn thực phẩm liên quan, các đợt kiểm tra cao điểm theo chỉ đạo của cơ quan cấp trên.

Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
           
Điều 11. Hiệu lực thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 01 năm 2013.
2. Bãi bỏ Quyết định số 41/2005/QĐ-BYT ngày 8 tháng 12 năm 2005 của Bộ Trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Quy định điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh, dịch vụ, phục vụ ăn uống kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực.

Điều 12. Tổ chức thực hiện 
1. Cục An toàn thực phẩm có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện Thông tư này trong phạm vi cả nước.
2. Sở Y tế, Chi Cục An toàn vệ sinh thực phẩm cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện Thông tư này và phân cấp quản lý đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống và kinh doanh thức ăn đường phố cho các cơ quan có thẩm quyền trên địa bàn theo Khoản 3, Điều 23 Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật an toàn thực phẩm.

Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (Công báo, Vụ KGVX, Cổng TTĐTCP);
- Bộ Tư pháp (Cục Kiểm tra VBQPPL);
- Bộ Công thương, Bộ NN&PTNT;
- Bộ trưởng Bộ Y tế (để b/cáo);
- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
- Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
- Cổng TTĐT BYT;
- Các đơn vị trực thuộc Bộ;
- Lưu: VT, PC, ATTP.
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG






Nguyễn Thanh Long


Kinh hãi những ký sinh trùng bò lúc nhúc trong người

vietnamnet.vn - 19/1/2013 13:00



Tiếp xúc với đất, cát, động vật, ăn hải sản tươi sống... cũng có thể khiến một số ký sinh trùng chui vào cơ thể người gây khó chịu, thậm chí gây nguy hiểm đến tính mạng.

Kinh hãi giun bò nhúc nhích dưới da
Thông tin về một bệnh nhân tại Hà Nội nhập viện với tình trạng giun bò nhúc nhích dưới da khắp cơ thể khiến người đọc kinh hãi. Nguyên nhân là do tiếp xúc nhiều với đất và vật nuôi mà không đeo găng tay nên đã bị ấu trùng sống trong đất và động vật chui vào da sinh sống. Theo kết luận của Bác sĩ – Thạc sĩ Nguyễn Tiến Lâm, Trưởng khoa virus Ký sinh trùng Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương thì chị Lan (tên bệnh nhân - PV) đã nhiễm ký sinh trùng giun lươn (tên khoa học là Strongyloides Stercoralis).
Giun bò nhúc nhích dưới da chị Lan.
Giun lươn là một loại giun tròn nguy hiểm nhất trong các loại ký sinh trùng đường tiêu hóa ở người vì chúng có thể tự nhân lên trong cơ thể (do quá trình tự nhiễm). Khi cơ thể chúng ta bị suy giảm miễn dịch thì chúng bùng lên phát triển rất mạnh, phát tán đến nhiều cơ quan gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí có thể tử vong. Nguyên nhân nhiễm giun lươn là do bệnh nhân tiếp xúc nhiều với đất, vật nuôi hoặc ăn hải sản tươi sống.
Cách đây chưa lâu, sau một chuyến nghỉ dưỡng tại resort ở Bình Thuận, cơ thể của 3 nữ du khách tại TP.HCM nổi những vệt nhỏ màu hồng và ngứa sau đó lan rộng ra một vài nơi.
Bệnh nhân đã đi khám ở bệnh viện da liễu và được kết luận là bị côn trùng cắn và cho 10 ngày thoa thuốc kèm uống nhưng không khỏi. Cuối cùng cả 3 nữ du khách quyết định đến xét nghiệm tại bệnh viện ĐH Y Dược và được kết luận là bị nhiễm ấu trùng giun móc chó, mèo. Nguyên nhân là do 3 người khi đi du lịch đã đắp bùn và ủ người dưới cát để giải trừ… độc tố cho gan. Ấu trùng giun móc chó, mèo ở trong đất, cát xuyên qua da người, di chuyển dưới da, tạo thành những đường đi ngoằn ngoèo có thể nhìn thấy được bằng mắt thường.
Ấu trùng giun di chuyển dưới da người gây ngứa ngáy, khó chịu.
Đây là trường hợp ấu trùng lạc chỗ, lạc chủ điển hình gây ra nên không ảnh hưởng đến sức khỏe nhiều, chỉ gây ngứa do các chất tiết của ấu trùng. Để điều trị đặc hiệu thì bệnh khỏi nhanh và không để lại sẹo. Nếu không điều trị, bệnh có thể tự khỏi sau ba tuần.
Người đàn ông với gần trăm con giòi sống trong mũi
Ông Hà Cát Tự (76 tuổi) ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Cạn bị viêm xoang được đưa vào viện trong tình trạng có giòi trắng, giòi xanh trong mũi. Trước đó, khi người nhà dùng thuốc nam nhỏ vào mũi, đã phát hiện có giòi trong lỗ mũi bên phải bò ra. Khoảng 50 con giòi màu trắng, màu xanh dài khoảng 1cm đã được gia đình gắp ra khỏi lỗ mũi ông Tự. Sau đó, tại bệnh viện Đa khoa TƯ Thái Nguyên đã tiếp tục gắp được hơn 40 con giòi nữa trong mũi ông Tự.
Ông Hà Cát Tự bị viêm nhiễm vách ngăn, phù nề và có giòi bên trong mũi.

Theo bác sĩ Nguyễn Mạnh Cường (khoa Tai - Mũi - Họng), bệnh nhân bị viêm nhiễm vách ngăn, hoại tử, niêm mạc phù nề, mũi trái xung huyết. Theo chẩn đoán ban đầu, có thể do bệnh nhân có tiền sử viêm xoang nên trứng côn trùng theo đường ăn uống hoặc sử dụng thuốc nam để chui vào mũi làm tổ. Hiện nay, ông Tự đã tỉnh táo và không thấy giòi trong mũi bò ra nữa.

Người phụ nữ “đẻ” ra đỉa

Câu chuyện về chị Đinh Thị Liên, Thôn Phú Hậu thuộc xã Diễn Tân (Diễn Châu, Nghệ An) “đẻ” ra đỉa đã khiến không ít người phải rùng rợn và tò mò. Theo chị Liên, khi chị đang đi làm ruộng thì thấy trong người khó chịu nên về sớm. Khi về gần đến nhà thì thấy máu chảy ra từ vùng kín khiến quần bị ướt. Có cái gì đó đang ngọ nguậy, chui ra từ vùng kín. Chị Liên dùng tay sờ xuống phía dưới cầm phần lồi ra của vật đang ngọ nguậy và kéo ra được cái gì đó dài chừng 30cm to bằng cổ tay người lớn (có đường kính khoảng 5cm)”. 
Chị Đinh Thị Liên, người “đẻ” ra đỉa diễn tả lại con đỉa chui từ trong cơ thể ra to bằng bắp tay.
Được biết, đó là loại đỉa trâu (Hirudinaria manillensis) là một loài đỉa thuộc ngành Giun đốt (Annelida), lớp đỉa (Hinrudinea) hay còn gọi là lớp giun không tơ achaeta) và là sinh vật sống ngoại ký sinh, nguồn thức ăn chính là máu của các loài động vật thuộc nhóm động vật có xương sống.
Đỉa trâu có môi trường sống ở các đầm lầy, ao hồ, nơi vùng trũng có nhiều trâu bò hay động vật có máu nóng, loại đỉa này cũng thường sống ký sinh trên rau muống. Đỉa trâu sống ký sinh, sinh sản phát triển ngay trong cơ thể động vật và có sức sống khá mãnh liệt trong nhiều môi trường.

Bị lột da vì nhiễm 4 loại kí sinh trùng chó, mèo


Đó là trường hợp hi hữu mà bệnh nhân Văn Viết Điền (sinh năm 1970, ngụ ấp 6, xã Minh Lập, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước) mắc phải. Theo kết quả xét nghiệm thì anh bị nhiễm 4 loại kí sinh trùng là: Amip E.Histolytita, giun đũa chó mèo Toxocara SP, giun lươn Stronryloides Stercoralis, sán dải heo Cystycrose.
Anh Điền bị nhiễm 4 loại ký sinh trùng.
Ban đầu, chân tay ông bị sưng và sốt cao và có những biểu hiện khác thường. Ngay sau đó, người nhà đã đưa ông chạy chữa ở rất nhiều bệnh viện: Bệnh viện Nhiệt đới TP.HCM, viện da liễu và bệnh viện Chợ Rẫy. Hiện nay, tình trạng sức khỏe của anh đã giảm sút nghiêm trọng: tóc rụng sạch, cân nặng giảm sút từ 64kg xuống còn 34kg.

Cậu bé 3 tuổi chứa nửa cân giun trong bụng

Cậu bé Trần Văn Đạt (34 tháng tuổi, quê xã miền núi Tam Trà, huyện Núi Thành) được nhập viện với các triệu chứng đau trướng bụng dữ dội, nôn mửa, thể trạng suy dinh dưỡng trầm trọng. Sau khi tiến hành các xét nghiệm và các kỹ thuật hình ảnh, các bác sĩ xác định trong bụng bệnh nhân có một lượng giun lớn, chính là nguyên nhân gây tắc ruột.
Toàn bộ ruột của bé Đạt căng phồng.

Sau 3 tiếng đồng hồ thực hiện ca mổ, các y bác sĩ đã gắp được tổng cộng hơn 300 con giun dài 0,3-1cm, tổng trọng lượng hơn 0,5kg. Các bác sĩ cũng nhận định đây là ca bệnh nhi hy hữu, lần đầu tiên một cháu bé gần 3 tuổi mang trong bụng một lượng giun lớn đến như vậy.
Số giun bác sĩ lấy ra từ ruột bé Đạt.
Đây là trường hợp điển hình của tình trạng người dân thiếu ý thức trong chăm sóc, vệ sinh sức khỏe cho trẻ nhỏ, đặc biệt đối với các vùng làng quê, đã khiến hầu hết trẻ em ở vùng sâu vùng xa hiện nay đều mắc giun sán, dẫn đến suy dinh dưỡng và các biến chứng khác nguy hại đến sức khỏe. Mặc dù hiện nay, hệ thống y tế dự phòng đã cung cấp thuốc xổ giun miễn phí đến trạm y tế xã, chỉ cần phụ huynh liên hệ với trạm y tế xã để nhận thuốc xổ giun định kỳ cho con em.

Hiền Anh (Tổng hợp)


  • vietnamnet.vn - 15/1/2013 08:31

Ăn hải sản sống, giun lươn bò lúc nhúc dưới da

Một nguyên nhân dẫn đến việc giun lươn bò dưới da là do ăn hải sản sống. Ngoài ra, tiếp xúc với đất hoặc vật nuôi cũng khiến giun lươn xâm nhập cơ thể.
 

Nhiễm giun lươn từ đất, hải sản sống

Mới đây, bệnh nhân Lê Lan 41 tuổi (Khương Đình, Hà Nội) bị những con giun bò lổm nhổm dưới da. Theo kết luận của Bác sĩ - Thạc sĩ Nguyễn Tiến Lâm, Trưởng khoa virus Ký sinh trùng bệnh viện Nhiệt đới Trung ương, đó là loại giun lươn (tên khoa học là Strongyloides Stercoralis).
Giun lươn bò lúc nhúc dưới da chị Lan.
Chị Lan mắc giun vì khi tiếp xúc nhiều với đất, vật nuôi mà không đeo găng tay đã khiến ấu trùng sống trong đất và động vật chui vào trong da.
Còn ông H.V. D. nhà ở Thái Thịnh, Hà Nội nhập viện vì cơ thể suy kiệt do căn bệnh giun lươn. Ông hay đau bụng, đi ngoài, ăn uống không ngon, buồn nôn làm ông sụt cân khoảng 13 kg.

Trên da còn có những vệt loằng ngoằng dài. Lúc đầu ông tưởng bị dị ứng nên đi khám da liễu nhưng không khỏi bệnh.

Sau đó, các sĩ đã tìm ra bệnh của ông là nhiễm ấu trùng giun lươn. Ông được điều trị với thuốc uống căn bệnh đã ổn.

Ông cho biết: Khi khám bệnh, bác sĩ có hỏi ông làm nghề gì, có tiếp xúc với đất không? Ông có ăn uống gì sống thường xuyên?

Ông D. vốn làm ở quán hải sản. Vì vậy, mỗi khi khách kêu đồ và còn thừa thì món hàu sống, tôm cuốn sống là khoái khẩu của ông, ông đều ăn sạch. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc ông bị nhiễm giun lươn.
Ấu trùng giun không chỉ ở trong đất mà còn trong hải sản sống. Trao đổi với báo giới, Tiến sĩ Trần Tịnh Hiền – Nguyên Phó giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP.HCM, cho biết: Ăn hải sản sống, kể cả nguồn nguyên liệu sạch, vẫn có nguy cơ lây nhiễm vi trùng, ký sinh trùng trong quá trình bảo quản, chế biến.

Ký sinh trùng thường có trong hải sản sống hoặc nấu chưa chín, bao gồm: giun tròn, sán dây, sán lá gan... Giun tròn, sống ký sinh trong ruột cá voi, hải cẩu. Trứng của loài ký sinh này theo phân cá voi, hải cẩu thải ra ngoài, trôi nổi dật dờ trên biển và bám vào các loại cá, mực nhỏ hơn như: Cá bơn, cá đá, cá hồi, cá ngừ, tôm...

Sau đó, chúng phát triển thành ấu trùng. Các loại tôm, cá nhỏ lại là hải sản được ưa thích, vì vậy ăn sống dễ nhiễm giun.

Giun lươn xâm nhập vào người thế nào?

Ths – BS Huỳnh Hồng Quang, Viện sốt rét, ký sinh trùng, côn trùng Quy Nhơn phân tích: Giun lươn tồn tại trong cơ thể con người hoặc ngoài môi trường tự do với 3 dạng: giun trưởng thành, trứng và ấu trùng. Ấu trùng giun lươn xâm nhập cơ thể bằng cách chui qua da, theo đường tĩnh mạch về tim, qua phổi, lên khí quản. Sau đó, nó tới hầu rồi chuyển sang thực quản, xuống ruột để trở thành giun trưởng thành.

Khi ấu trùng xuyên qua da, bệnh nhân có thể thấy biểu hiện viêm ngứa kiểu dị ứng. Nếu cường độ nhiễm cao mới xuất hiện rõ những triệu chứng về tiêu hóa: tiêu chảy 5-7 lần/ngày, phân lỏng toàn nước. Bệnh nhân thường bị thiếu máu nhẹ, suy nhược thần kinh. Một số trường hợp giun lươn lạc chỗ có thể gây các triệu chứng viêm phổi bất thường.
Bệnh nhân Văn Viết Điền (42 tuổi, Bình Phước) nhiễm giun lươn Strongyloides Stercoralis
Bệnh giun lươn mãn tính, không biến chứng có thể gặp ở người bình thường, không có suy giảm miễn dịch, đa số không có triệu chứng. Nếu có thường biểu hiện ở da như những đường ngoằn ngoèo ở da, bầm máu, nổi mề đay.

Biểu hiện ở đường tiêu hoá như đau bụng, tiêu chảy, ngứa hậu môn, sụt cân nhẹ,....Trường hợp nặng, có biến chứng gặp ở người suy giảm miễn dịch. Người bệnh có thể gặp các biến chứng như tắc ruột, viêm phổi, viêm não, nhiễm trùng huyết.

Giun lươn là một loại giun tròn nguy hiểm nhất trong các loại ký sinh trùng đường tiêu hóa ở người vì chúng có thể tự nhân lên trong cơ thể (do quá trình tự nhiễm). Khi cơ thể chúng ta bị suy giảm miễn dịch thì chúng bùng lên phát triển rất mạnh, phát tán đến nhiều cơ quan gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí có thể tử vong.

Do đó, BS Quang khuyến cáo: Dù là bệnh nhẹ, không có biểu hiện gì nhưng nếu phát hiện có nhiễm giun lươn qua xét nghiệm thì cũng phải điều trị để giảm nguồn lây cho cộng đồng và tránh bệnh diễn tiến nặng, nguy hiểm đến tính mạng nếu chẳng may cơ thể bị suy giảm sức đề kháng.

Khi có giun lươn trong cơ thể, nếu có biểu hiện thì chỉ có triệu chứng ở đường tiêu hóa và ngoài da, như tiêu chảy, đau bụng, nổi mề đay, xuất hiện đường ngoằn ngoèo ở ngang thắt lưng, trên mu bàn tay, bàn chân và quanh hậu môn (do ấu trùng di chuyển).

Để phòng ngừa nhiễm giun lươn và các loại giun, sán nói chung (giun móc, giun mỏ, giun đũa, giun kim, giun tóc...), các chuyên gia ký sinh trùng khuyên không nên tiếp xúc đất mà không có phòng hộ cá nhân, nhất là không cho trẻ nghịch đất, đi chân đất hoặc chơi các trò chơi tiếp xúc với đất vì lý do ấu trùng loại giun này dễ dàng chui qua da rồi đi vào các cơ quan trong cơ thể.

Ngoài ra, tránh ăn hải sản sống nếu hải sản đó không được nuôi trong vùng được kiểm soát dịch, bệnh.
(Theo VTC News)

'Công nghệ' luộc bắp bằng pin, hóa chất

www.tienphong.vn - 17:37 | 19/01/2013

Bỏ vài muỗng hóa chất và một viên pin vào nồi luộc 200 trái bắp (ngô), chưa đến 2 giờ sau toàn bộ bắp sẽ chín, thơm, ngọt và để lâu mà không bị ôi thiu.
Bắp luộc bán dạo ở TP.HCM
Bắp luộc bán dạo ở TP.HCM.
Qua chuyến thực tế tại các lò nấu bắp trên địa bàn TP.HCM, khiến chúng tôi không khỏi bàng hoàng khi nghe chính những người nấu bắp đi bán tường thuật lại những “chiến thuật” nấu.
Để nấu bắp nhanh chín, thơm ngon, ngọt và có thể để lâu mà không bị ôi thiu không khó, chỉ cần dùng…hóa chất rồi cho một cục pin vào nối bắp đang xôi thì chỉ cần không đến 2 giờ đồng hồ, nồi bắp 200 trái sẽ chín.
Muốn có lãi thì phải dùng… hóa chất
Để làm sáng tỏ sự việc, chúng tôi đến chợ ngã ba Bầu (ở ấp Đông, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, TPHCM) để tìm hiểu sự việc. Tại đây, có hàng chục chiếc xe ô tô chở bắp sống mua tại rẫy về bán lại.
Rất nhiều chủ lò nấu bắp bán dạo về đây lấy bắp về nấu lên rồi đi bán ở khắp thành phố. Mỗi quả bắp được bán với giá từ 1.400 đến 3.000 đồng/bắp, tùy từng loại và tùy vào chất lượng bắp ngon hay không.
Chúng tôi được tiếp xúc với bà Tám, người vừa nấu bắp bán, vừa bán bắp sống. Bà Tám cho biết, chợ ngã ba Bầu là nơi cung cấp bắp sống cho toàn thành phố. Hàng ngày, xe ô tô cứ thế chở bắp về bán, còn những người nấu bắp thì về đây lấy.
Cứ như thế, chợ bắp lúc nào cũng tấp nập người ra vào. Nhìn chúng tôi, bà Tám hỏi “tụi bay xuống đây mua bắp về nấu bán lại hay sao? Đừng có dùng mấy thứ hóa chất mà nấu rồi có ngày bị công an “hỏi thăm” đấy”. Nói rồi bà Tám đem ánh mắt đầy ẩn ý nhìn chúng tôi.
Bà Tám kể lại, vừa rồi có một số chủ lò dùng hóa chất nấu bắp đi bán nên đã bị công an bắt, đến nay họ không hoạt động lại được nữa. Nhưng khi nghe chúng tôi trình bày là sinh viên nên đến mua bắp về nấu bán, khiếm thêm thu nhập, đóng học phí.
Lúc đó, bà Tám mới nhìn chúng tôi với một ánh mắt thiện cảm hơn. Bà Tám thân mật chỉ cho chúng tôi cách nấu bắp “tụi bay nấu bắp bán cho sinh viên thì chịu khó nấu không sử dụng hóa chất ấy. Nấu như thế, mất nhiều công sức và thời gian nhưng mình cần phải có “lương tâm” của người làm nghề. Còn nếu, tụi bay không có lương tâm nghề nghiệp thì chỉ có việc dùng hóa chất và dùng pin để nấu, bắp chín rất nhanh”.
Chúng tôi hỏi, luộc bắp bằng pin thì làm sao? Bà Tám cho biết, để bắp nhanh chín, khi luộc, người ta cho một hai cục pin vào nấu chung thì bắp chín rất nhanh. Nhưng người luộc phải canh chừng, nếu không để quá lửa bắp sẽ bị nhão.
Luộc như thế, đi bán thì mới có…lãi. Bởi khi lấy bắp tại chợ đầu mối về, giá bắp đã có giá từ 1.400 đến 3.000 đồng/bắp, ngoài ra khi lấy bắp ở chợ, bắp không còn tươi, bắp dể lâu ngày, hạt đã khô cứng lại nên luộc bằng củi thông thường sẽ rất lâu và rất tốn nhiên liệu mà khi bán giá chỉ từ 2.500 đồng đến 5.000 đồng/ bắp.
Gặp một phụ nữ bán bắp trên đường, chúng tôi mang chuyện luộc bắp ra trao đổi thì người phụ nữ kể lại quy trình luộc bắp gia truyền của mình. Người phụ nữ này cho biết, “tôi làm việc có lương tâm nghề nghiệp lắm. Hằng ngày tôi cứ thế lấy bắp ở chợ đầu mối về mang luộc và bán. Mỗi một nồi như thế, tôi nấu khoảng 100-200 bắp”.
Nhưng khi chúng tôi theo chấn chị này đến hẻm 249, đường Tân Kỳ Tân Quý, Q.Tân Phú thì sự việc hoàn toàn khác. Trước mắt chúng tôi là khu nhà trọ tồi tán, hàng trăm chiếc xe bán bắp đề bảng giá bắp 5.000 đồng/2 trái; 10.000đồng/3 trái, hay bắp thơm ngon, giá bán rẻ.
Khi phát hiện người lạ đến, rất đông người đàn ông trong xóm trọ này ra “đón tiếp chúng tôi bằng những lời lẽ khiếm nhã. Một người đàn ông chừng 50 tuổi lớn tiếng de dạo “tụi bay đến đây làm gì. Tụi bay có quyền gì đến đây phá hoại công việc của tụi tao. Bọn tạo là những người nghèo thì hay để cho bọn tao kiếm chút gì sống với chứ…”. Rồi không biết bao những lời khó nghe mà người đàn ông ấy dành cho chúng tôi.
Một lò luộc bắp bằng hoá chất
Một lò luộc bắp bằng hoá chất.
Không dám ăn bắp mình luộc
Tiếp tục tìm hiểu vấn đề, chúng tôi đến với những lò nấu bắp trên đường Quang Trung, quận Gò Vấp, TPHCM. Tại đây, chúng tôi được bà Ba Ỏn – người có thâm niên 14 năm nấu bắp đi bán nhưng đã bỏ nghề, chuyển sang nghề nấu phở cho biết, hiện nay đa số những người luộc bắp đi bán đều luộc bắp bằng hóa chất.
Nhẫn tâm hơn, một số chủ lo còn sử dụng pin để nấu cho bắp nhanh chín. Công thức nấu là 200 quả bắp, người ta cho khoảng một ít hương bắp, 2-3 muỗng muối diêm và 2,3 muỗng đường ngọt, cộng một cục pin.
Cứ như thế, sau khi ra lò, nhìn quả bắp rất tươi, thơm ngon và ngọt, nhưng người ăn rất khó để phát hiện. Nếu muốn bắp lâu ôi thiu, bỏ ngày này qua ngày khác thì chỉ cần cho chất bảo quản vào thì bắp ngày hôm nay bán không hết, mang về luộc lại vẫn…thơm ngon.
Khi thấy chúng tôi cầm quả bắp mới mua trên tay, bà Ba Ỏn hỏi “mua với giá bao nhiêu”. Nghe chúng tôi nói 10.000/5 trái, bà Ba Ỏn nhíu mày rồi lẳng lặng. Mặc dù chúng tôi mời bà ăn rất nhiệt tình nhưng bà Ba Ỏn cũng chỉ cầm quả bắp trên tay lảy một hạt cho vào miệng rồi lập tức nhả ra.
Bà Ba Ỏn khẳng định, trái bắp chúng tôi mua đã ngấm hóa chất, vì có vị ngọt rất lạ và cùi rất mềm, nhất là mùi thơm của quả bắp đã không còn nữa.
Nghe lời bà Ba Ỏn, chúng tôi tìm đến lò nấu bắp của bà N nằm trên đường Quang Trung. Thấy chúng tôi đến, bà N ngần ngại tiếp đón và làm những công việc của mình không được tự nhiên.
Chúng tôi hỏi gì liên quan đến việc luộc bắp, bà N chỉ ậm ừ trả lời, hay chỉ trả lời qua loa cho có lệ. Khi chúng tôi có nhã ý lấy lại hàng của bà về bán lại, bà N đưa mắt lên nhìn chúng tôi một lúc rồi cúi xuống cười cười.
Bà N nói “ở đây tôi bán bắp tại lò đã có giá 5.000 đồng/bắp, các cô lấy về bán thì lời được bao nhiêu. Và lại, tôi luộc rồi tự mình đi bán chứ không bỏ mối”.
Bà N cho biết, mỗi một ngày bán được khoảng 200 bắp và ở các chợ Bà Chiểu, Hạnh Thông Tây… Chúng tôi hỏi, sao không bán ở gần nhà cho khỏe thì nhận được câu trả lời của bà N “bán ở gần nhà không bán được, bán ở nơi xa hàng mới nhanh hết”.
Dù đang sắp bắp cho vào nồi luộc nhưng trước mặt chúng tôi, bà N chỉ cho nước và một ít muối vào nấu rồi loanh quanh tìm vật gì đó. Biết ý chúng tôi quay ra ngoài thì nhanh như cắt, bà N cho thứ gì đó vào nồi bắp đang sôi. Và khi bắp gặp sự để ý của chúng tôi, nhanh như cắt bà N cắt đi và khéo léo trò chuyện cùng chúng tôi.
Dù đang nói chuyện vui vẻ nhưng bà N lấy chuyện chuẩn bị đến giờ đi bán bắp để cáo lỗi với khách. Ra đến cổng, chúng tôi bắt gặp ánh mắt soi mói của những người xung quanh. Thắc mắc chúng tôi đến bắt chuyện chị được họ hỏi “vào mua bắp về bán lại à!”.
Chúng tôi bảo muốn mua về bán nhưng không được, những người ở đây cho biết “chẳng biết bà ấy nấu thế nào mà những người hàng xóm không ai dám mua về ăn. Khi nào thèm bắp, chúng tôi chỉ biết ra chợ mua bắp sống về luộc lên và thưởng thức”.
Hóa chất trôi nổi
Từ những lời thuật lại của những người nấu bắp, chúng tôi có mặt tại chợ Kim Biên để tìm hiểu xuất xứ, nguồn gốc của những hóa chất mà người dân dùng để nấu bắp. Tại đây, có vô vàn các loại hóa chất. Hỏi mua loại nào cũng có. Chúng tôi muốn mua hoa chất nấu bắp nhưng hình như nắm bắt được ý định của chúng tôi, những người bán ở đây rất e dè và không muốn hợp tác.
Chúng tôi hỏi mua loại hóa chất dùng để nấu bắp nhanh mềm, lâu ôi thiu, người bán hàng tại cửa hàng K.D chỉ vào gói bột màu trắng, được xay nhuyễn, không nhãn mác, không nói sản xuất và hạn sử dụng. Hóa chất này được bán với giá 100.000 đồng/kg.
Chị bán hàng chỉ cho chúng tôi, chỉ cần mua loại bột này về, cho vào nồi bắp 200 trái khoảng 2 muỗng cà phê thì bắp sẽ chín rất nhanh mà để lâu sẽ không bị ôi thiu. Nếu bán hôm nay không hết, để hôm sau hấp lại trông quả bắp vẫn tươi ngon như thường. Khi chúng tôi hỏi loại bột này có tên là gì, lưỡng lự một lúc chị bán hàng mới trả lời là…muối diêm.
Khi hỏi mua loại đường dùng cho việc nấu bắp, chị chủ quán cho biết, đó là loại đường ngọt so với đường bình thường rất nhiều, có giá từ 80.000 đến 90.000/kg. Khi luộc bắp, chỉ cần cho vào vào khoảng 3 muỗng/200 quả bắp thì bắp sẽ rất ngọt. Loại đường này cũng không có nhãn mác, chỉ biết rằng nó xuất xứ từ Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Theo Dương Bình
Giadinh.net